Author Archives: Liên minh HTX Nghệ An

Dân tộc Thái

Tộc người Thái bao gồm các nhóm: Man Thanh, Hàng Tổng, Tày Mười thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái. Đây là bộ phận dân cư lớn nhất, đóng vai trò rất quan trọng trong việc thay đổi bộ mặt miền núi Nghệ An trong lịch sử cũng như hiện nay là gần 30 vạn cư dân Thái. Đây là nhóm Thái có số dân sống tập trung lớn vào loại thứ hai của cả nước (sau Sơn La trên 57 vạn).

Người Thái vào Nghệ An khoảng từ thế kỷ XV – XVII do những nguyên nhân khác nhau: một bộ phận do chuyển cư tự nhiên từ Lào sang, một bộ phận do chủ trương chuyển cư của Lê Thái Tổ (thế kỷ XV) khi chinh phạt Đèo Cát Hãn từ Tây Bắc, một bộ phận khác chuyển cư từ Thanh Hoá vào. Có ý kiến khác lại cho rằng người Thái đến Nghệ An vào khoảng thế kỷ thứ X. Gần đây, theo tài liệu của một học giả Pháp, người Thái đã có mặt ở vùng này trước thế kỷ VI. Hầu hết các huyện miền núi và trung du ở Nghệ An đều có cư dân Thái sinh sống: Anh Sơn, Con Cuông, Tương Dương, Kỳ Sơn, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Thanh Chương và một số xã thuộc huyện đồng bằng Quỳnh Lưu.

Theo tư liệu tiếng Thái ghi chép còn lại và những truyền thuyết dân gian cho thấy nhóm Thái đầu tiên vào Nghệ An là nhóm có số dân đông nhất, cư trú chủ yếu ở dọc Quốc lộ 48A thuộc các huyện Quế Phong, Quỳ Châu, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp hiện nay. Nhóm cư dân này được gọi là Hàng Tổng, có nơi gọi là người Tày Mường hay Tày Chiềng. Do di cư từ Tây Bắc vào có tổ chức theo đơn vị Mường phìa nên vào Nghệ An họ mang theo tên gọi có ý nghĩa tự xưng như là người Tày Chiềng, Tày Mường, (người ở vùng trung tâm của “Mường phìa”). Nhóm Tày Mường và Tày Chiềng cư trú sớm nhất so với các nhóm người khác ở miền núi Nghệ An. Qua các sách vở bằng chữ Thái, nhóm Tày Mường đã lập làng bản ở Con Cuông và Tương Dương vào thế kỷ 13 – 14. Ở vùng Quỳ Châu cũ, nhóm Tày Mường đã lập nghiệp đầu tiên ở Mường Tôn (nay là xã Mường Nọc huyện Quế Phong); Kim Tiến (gồm các xã Châu Bính và Châu Tiến huyện Quỳ Châu ), Khủn Tinh (gồm các xã Châu Quang, Châu Thái, Châu Lý, Châu Đình huyện Quỳ Hợp).

Người Thái là một trong những cư dân biết làm ruộng nước từ rất sớm. Một số khâu trong kỹ thuật canh tác đã đạt đến trình độ cao. Dấu vết của văn hóa “hỏa canh thủy nậu” truyền thống vẫn còn tồn tại ở những vùng thung lũng hẹp. Bổ sung vào nguồn lương thực và canh tác ruộng nước, đồng bào còn canh tác nương rẫy với lúa cạn và các cây lương thực hoặc hoa màu. Chu kỳ canh tác loại nương rẫy này thường từ 3 – 4 năm. Ở một loại nương rẫy khác dùng để trồng bông, dệt vải và đã áp dụng một số biện pháp thâm canh cao. Rau rừng và các sản phẩm tự nhiên khác như tôm, cá, cua,… là nguồn thức ăn bổ sung quan trọng. Người Thái trước đây chỉ trồng lúa nếp, thì nay họ đã trồng lúa tẻ nhiều hơn với các loại giống mới thay thế các giống địa phương… Trong các loài gia súc thì con trâu được người Thái quý trọng vì ngoài việc dùng làm sức kéo còn là vật cúng lễ, họ còn có nhiều kinh nghiệm trong việc nuôi cá ruộng và cá ao. Việc săn bắn chim thú được tiến hành trong lúc nhàn rỗi và bên cạnh việc tăng nguồn thức ăn, săn bắn còn nhằm mục đích bảo vệ mùa màng,… Các gia đình người Thái đều biết làm nghề thủ công. Trong đó có các nghề trồng bông dệt vải, dệt thổ cẩm rất nổi tiếng. Nghề dệt thổ cẩm Thái là nghề cổ truyền, có tính chất gia truyền và thu nhập do nghề dệt đem lại ở một số gia đình đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế. Cư dân Thái ở vùng Cửa Rào (huyện Tương Dương) còn biết làm nghề chạm bạc đồ trang sức; Ở vùng Quế Phong, Kỳ Sơn, Tương Dương nghề đãi vàng khá phát triển. Ngoài ra người Thái còn có các nghề như lấy cánh kiến ở Tương Dương, nghề làm gốm, nghề rèn, đan lát.

Nét văn hóa tiêu biểu nhất ở người Thái là nhà cửa và trang phục. Mỗi bản thường có 30 – 40 nóc nhà, cũng có bản trên 100 nóc nhà. Nhà ở được cấu trúc theo lối mật tập và thường lớn hơn, chắc chắn hơn so với nhà của đồng bào các dân tộc khác. Xu hướng nhà sàn của người Thái chuyển dần sang nhà đất đã xuất hiện nhiều hơn trong những năm gần đây. Một số gia đình làm nhà nửa sàn nửa đất… Quần áo và đồ trang sức của người Thái Nghệ An có một số nét khác biệt với người Thái Tây Bắc. Đáng chú ý là chiếc váy phụ nữ có cạp trắng hay đỏ, chân váy được thêu rực rỡ. Áo phụ nữ Thái điển hình cho lối trang phục của các cư dân ở vùng Đông Nam Á với 3 loại áo: chui đầu, xẻ nách và xẻ ngực. Trong các dịp lễ hội, đồng bào dân tộc Thái tổ chức nhiều hoạt động văn hóa đặc sắc với các trò chơi nhảy sạp, ném còn,… Hoạt động văn nghệ thì đánh trống, cồng chiêng, khắc luống và hát xuối, nhuôn đối đáp. Tổ chức thi văn nghệ, thi người đẹp và các môn thể thao dân tộc như kéo co, bắn nỏ,…

Về quan hệ xã hội, hôn nhân và gia đình, trong lịch sử khi di cư vào Nghệ An, người Thái cũng đã mang theo thiết chế xã hội của họ ở Tây Bắc vào: chúa đất cai quản Mường và cha truyền con nối. Gia đình Thái là gia đình nhỏ phụ quyền, một vợ một chồng. Trong đó, quyền lực tập trung trong tay người cha, người chồng. Hôn nhân truyền thống của người Thái nhiều chỗ còn mang tính chất “mua bán”. Tiền “cá hua” là giá của người con gái mà chàng rể phải trả dưới hình thức lễ vật, bạc nén và ở rể. Luật tục xử phạt rất nặng đối với các trường hợp vi phạm sự ổn định của gia đình như ngoại tình, loạn luân,…

Người Thái cho rằng Pò Then là đứng siêu nhân quyết định cuộc đời và số phận của con người. Then cai quản các thần, các loại ruộng nương, ma nương, ma tổ tiên. Mỗi bản đều có các ông Mo nắm giữ phần hồn của người dân. Trật tự gia đình phụ quyền được khẳng định và củng cố bằng hình thức thờ cúng tổ tiên. Việc thờ cúng Chúa đất, bản mường, tổ tiên,… tổ chức theo hội hè hàng năm, theo mùa vụ sản xuất và thường ghép với nghi lễ nông nghiệp. Tín ngưỡng có liên quan đến nông nghiệp rất được quan tâm như tục đón tiếng sấm đầu tiên, tục cúng hồn lúa và cúng vua ruộng khi gieo mạ, cấy lúa, lễ cơm mới,…

Một số hình ảnh dân tộc Thái ở Nghệ An:

Ban biên tập

16/06/2023 Ban Dân tộc tỉnh tổ chức Hội nghị tuyên truyền, phổ biến pháp luật …

Thực hiện Chương trình công tác năm 2023, Ban Dân tộc tỉnh phối hợp với UBND, Phòng Dân tộc huyện Quỳ Hợp tổ chức Hội nghị tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật năm 2023.

Anh-tin-bai

Toàn cảnh Hội nghị

Dự khai mạc hội nghị có đồng chí Lương Doãn – Trưởng phòng Dân tộc huyện Quỳ Hợp; đồng chí Võ Trọng Niệm, Chuyên viên phòng Chính sách, Ban Dân tộc tỉnh Nghệ An; đồng chí Trương Thị Bích Hiệp, Phó Chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ huyện Quỳ Hợp và 70 đại biểu là cán bộ xã, bí thư chi bộ, trưởng thôn bản, trưởng các đoàn thể ở thôn bản, người có uy tín trong đồng bào vùng dân tộc thiểu số của 03 xã thuộc huyện Quỳ Hợp là Nghĩa Xuân, Châu Thái, Châu Cường.

Anh-tin-bai

Hội nghị thảo luận chuyên đề Luật Bình đằng giới; Luật Phòng, chống bạo lực gia

Hội nghị được tổ chức 01 ngày 15/6/2023, đại biểu được thông tin 02 chuyên đề là Chuyên đề Luật Bình đằng giới; chuyên đề Luật Phòng, chống bạo lực gia. Nhằm nâng cao kiến thức về pháp luật cho người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo Quyết định 1898/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Quyết định số 1898/QĐ-TTg ngày 28/11/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2018 – 2025”  nhằm Tạo sự chuyển biến tích cực trong thực hiện bình đẳng giới và nâng cao vị thế của phụ nữ ở vùng dân tộc thiểu số, góp phần thúc đẩy thực hiện thành công các mục tiêu của Chiến lược quốc gia bình đẳng giới. theo đó, 100% cán bộ làm công tác dân tộc ở địa phương, 50% cán bộ làm công tác liên quan đến bình đẳng giới ở cấp huyện, cấp xã và người có uy tín, già làng, trưởng bản vùng dân tộc thiểu số có đồng bào dân tộc thiểu số rất ít người sinh sống được phổ biến pháp luật về bình đẳng giới và tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, nâng cao năng lực tổ chức triển khai thực hiện chính sách, pháp luật về bình đẳng giới; Phấn đấu 80% số hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số rất ít người được tiếp cận thông tin về giới và pháp luật về bình đẳng giới; 100% các trường, lớp bán trú và dân tộc nội trú được tuyên truyền kỹ năng sống, về giới và bình đẳng giới với nội dung và thời lượng phù hợp với lứa tuổi.

Qua buổi tuyên truyền giúp đại biểu nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật, chuyển đổi hành vi trong đồng bào DTTS về bình đẳng giới, tiến tới dần xóa bỏ bạo lực trên cơ sở giới, định kiến giới và các quan niệm lạc hậu về giới trong cộng đồng các DTTS. Đồng thời, nâng cao vị thế, vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong gia đình, xã hội, giảm khoảng cách về giới, góp phần vào sự phát triển, tiến bộ của nữ giới trong vùng DTTS trên địa bàn.

 

                                                                                   Trần Thị Hường

Khảo sát xây dựng nhà ở cho hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn tại xã …

Ngày 14/4/2023, Đoàn công tác của Ban Dân tộc do đồng chí Vy Mỹ Sơn, Phó Trưởng Ban, Tổ trưởng tổ công tác theo Quyết định số 25/QĐ-BDT ngày 29/3/2023 của Ban Dân tộc, về việc kiện toàn Tổ công tác giúp đỡ xã Quang Phong, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An và các thành viên trong tổ, đã phối hợp với UBND xã Quang Phong, tiến hành khảo sát, kiểm tra hiện trạng nhà ở, đất ở, hoàn cảnh gia đình của các hộ có hoàn cảnh khó khăn được lựa chọn đề nghị xây dựng nhà và sửa chữa nhà ở trên cơ sở đề xuất của UBND xã Quang Phong, huyện Quế Phong.

Anh-tin-bai

Nhà sàn của gia đình ông Lương Văn Quế, xã Quang Phong, huyện Quế Phong

Đoàn đã đến thăm và tìm hiểu hoàn cảnh của hộ gia đình ông Lương Văn Quế trú tại bản Pảo, xã Quang Phong, huyện Quế Phong. Theo thông tin được cung cấp, gia đình là hộ nghèo đặc biệt khó khăn, được kế thừa nhà sàn cũ 3 gian của bố mẹ để lại, hiện tại nhà đã dột nát, khó có thể đảm bảo an toàn cho cả nhà trong mùa mưa bão. Nguyện vọng của gia đình hiện nay muốn dựng lại nhà mới đủ kiên cố tránh bão, để cả nhà không cần phải dắt díu nhau tìm chỗ trú ẩn mỗi khi mùa mưa bão đến.

Đoàn tiếp tục đến khảo sát nhà ở của gia đình ông Sầm Văn Chanh, là hộ nghèo đặc biệt khó khăn cùng trú tại bản Pảo, xã Quang Phong, huyện Quế Phong, bản thân ông bị khuyết tật, còn bố mẹ già yếu hay ốm đau, bệnh tật, hai con còn nhỏ, lao động chính trong gia đình chỉ nhờ vào người vợ. Hiện nay căn nhà sàn của gia đình đã xuống cấp. Do bản thân ông Chanh bị tàn tật, bố mẹ thì đã già yếu, do vậy mong muốn được các đoàn thể giúp đỡ để gia đình ông tháo dỡ nhà sàn, sữa chữa thành nhà đất tiện cho sinh hoạt hàng ngày của gia đình.

Anh-tin-bai

Căn nhà sàn của gia đình ông Sầm Văn Chanh, xã Quang Phong, huyện Quế Phong

Năm 2023, dự kiến hỗ trợ xây dựng, sửa chữa nhà cho 02 hộ nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên địa bàn xã Quang Phong, huyện Quế Phong với tổng kinh phí hỗ trợ là 75 triệu đồng (trong đó: 50 triệu đồng/nhà làm mới và 25 triệu/nhà sửa chữa). Đây là một trong những hoạt động nhân đạo thông qua nguồn vốn kêu gọi ủng hộ giúp đỡ của toàn thể cán bộ, công chức, viên chức Cơ quan Ban Dân tộc nhằm giúp đỡ những gia đình có hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong cuộc sống.

Lang Thị Hiến

Thông qua Kết luận Thanh tra về việc thực hiện các chính sách dân tộc tại huyện Thanh Chương

Chiều ngày 05 tháng 5 năm 2023, Ban Dân tộc tỉnh Nghệ An, tổ chức Hội nghị thông qua dự thảo kết luận Thanh tra việc thực hiện các chính sách dân tộc tại huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An niên độ 2020-2022.

Thành phần tham dự Ban Dân tộc tỉnh, ông Vy Mỹ Sơn, Phó Trưởng Ban cùng các thành viên Đoàn thanh tra; UBND huyện Thanh Chương, có ông Lê Đình Thanh, Phó Chủ tịch UBND huyện; Trưởng các phòng chuyên môn, Chủ tịch UBND các xã, Hiệu trưởng các trường THCS, TH đến tham dự.

Anh-tin-bai

Tại Hội nghị đại diện đoàn thanh tra thông qua toàn văn dự thảo kết luận thanh tra, các thành phần tham dự Hội nghị đã nhất trí cao với dự thảo kết luận. Ông Lê Đình Thanh,  Phó Chủ tịch UBND huyện thay mặt các đơn vị tiếp thu những sai sót, khuyết điểm mà Đoàn đã chỉ ra, đồng thời quán triệt các đơn vị nghiêm túc thực hiện kiến nghị của Đoàn thanh tra.

Kết luận Hội nghị:  ông Vy Mỹ Sơn, Phó Trưởng Ban Dân tộc đánh giá cao kết quả thực hiện thanh tra của Đoàn; ghi nhận những ưu điểm của UBND huyện trong việc lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị thực hiện các chính sách dân tộc, chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm của đơn vị trong thời gian qua, đồng thời yêu cầu Lãnh đạo UBND huyện nghiêm túc chỉ đạo các đơn vị thực hiện các kiến nghị tại kết luận thanh tra. Báo cáo kết quả việc thực hiện kết luận thanh tra đúng thời gian quy định. Đề nghị Đoàn thanh tra hoàn chỉnh kết luận thanh tra trình Lãnh đạo Ban ký ban hành theo quy định./.

Nguyễn Thị Thanh Tần

Ban Dân tộc tỉnh dâng hương tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Khu Di tích Kim Liên

Nhân kỷ niệm 133 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, chiều 15/5, đoàn cán bộ, viên chức Ban Dân tộc tỉnh do đồng chí Vi Văn Sơn – Ủy viên BCH Đảng bộ tỉnh, Trưởng Ban làm trưởng đoàn đã đến dâng hoa, dâng hương tại Khu Di tích Quốc gia đặc biệt Kim Liên, huyện Nam Đàn.
Ban Dân tộc tỉnh dâng hương tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Khu Di tích Kim Liên ảnh 1
Đoàn cán bộ, công chức, viên chức Ban Dân tộc tỉnh dâng hoa, dâng hương tại Khu Di tích Quốc gia đặc biệt Kim Liên, huyện Nam Đàn. Ảnh: Vân Anh
Ban Dân tộc tỉnh dâng hương tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Khu Di tích Kim Liên ảnh 2
Đồng chí Vi Văn Sơn – Ủy viên BCH Đảng bộ tỉnh, Trưởng ban Dân tộc tỉnh và đoàn công tác thành kính dâng hương tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh: Vân Anh

Tại Khu Di tích Quốc gia đặc biệt Kim Liên, trong không khí thiêng liêng, thành kính, đoàn cán bộ, công chức, viên chức Ban Dân tộc tỉnh đã tổ chức dâng hoa, dâng hương tưởng niệm và bày tỏ tấm lòng biết ơn sâu sắc đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ vĩ đại, Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất.

Trước anh linh của Người, đoàn cán bộ Ban Dân tộc tỉnh nguyện luôn trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước; không ngừng học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; thường xuyên nâng cao kiến thức, tích lũy kinh nghiệm, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ, góp phần vì sự phát triển của đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số./.

Vân Anh

Nguồn: BDT.Nghệ An

Hội nghị tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật năm 2023

Thực hiện Kế hoạch số 115/KH-BDT ngày 06/3/2023 về việc triển khai thực hiện Đề án “ Hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2018-2025”; Kế hoạch số 121/KH-BDT ngày 07/3/2023 về triển khai tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật năm 2023.

Từ ngày 05 đến ngày 07/6/2023, Ban Dân tộc tỉnh Nghệ An triển khai tổ chức 02 lớp Hội nghị Tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật năm 2023, cho gần 140 học viên đại diện cho các đoàn thể cấp xã, thôn, bản; già làng, trưởng bản, người có uy tín của 06 xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.

Tại hội nghị các đại biểu đã được nghe các báo cáo viên truyền đạt các chuyên đề về: Luật Bình đẳng giới; Luật phòng, chống bạo lực gia đình; Luật Biên phòng Việt Nam 2020; Luật hộ tịch, Luật cư trú…các văn bản mới ban hành có liên quan trực tiếp đến đời sống sản xuất, phát triển kinh tế – xã hội an ninh quốc phòng đối với nhân dân vùng đồng bào vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Anh-tin-bai

Báo cáo viên tuyên truyền tại Hội nghị

Tiếp đó, đồng chí Vy Mỹ Sơn, Phó Trưởng Ban Dân tộc đã thông tin về các Chính sách dân tộc, Chương trình mục tiêu phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025 tại tỉnh Nghệ An.

Anh-tin-bai

Đồng chí Vy Mỹ Sơn, Phó Trưởng Ban Dân tộc tuyên truyền tại Hội nghị.

Thông qua hội nghị, giúp cho các học viên nâng cao kiến thức pháp luật, nắm được kỹ năng tuyên truyền tại địa phương, đồng thời giúp cho người dân đặc biệt vùng đồng bào dân tộc thiểu số nâng cao kiến thức pháp luật, chấp hành nghiêm các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, từ đó góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế, xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương./.

Lang Thị Hiến

Nguồn: BDT.Nghệ An

Giới thiệu

DANH SÁCH CÁC XÃ KHU VỰC I, II, III VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI

Việt Nam là đất nước trên dải đất hình chữ S, nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, ở phía đông bán đảo Đông Dương, phía bắc giáp Trung Quốc, phía tây giáp Lào, Campuchia, phía đông nam trông ra biển Đông và Thái Bình Dương. Bờ biển Việt Nam dài 3 260 km, biên giới đất liền dài 4 510 km. Trên đất liền, từ điểm cực Bắc đến điểm cực Nam (theo đường chim bay) dài 1650km, từ điểm cực Đông sang điểm cực Tây nơi rộng nhất 600km (Bắc bộ), 400 km (Nam bộ), nơi hẹp nhất 50km (Quảng Bình).

Việt nam là nước nhiệt đới gió mùa được phân bổ thành 3 vùng. Miền Bắc và Bắc Trung Bộ là khí hậu cận nhiệt đới ẩm (4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông); Miền Trung và Nam Trung bộ là nhiệt đới gió mùa; Miền Nam có khí hậu nhiệt đới xavan Nóng và ẩm (2 mùa: khô và mưa. Với địa hình ¾ là đồi núi, được chia thành 63 tỉnh và thành phố, 54 dân tộc anh em và có nền văn hóa đa dạng, phong phú nhiều nét đặc biệt trong văn hóa Việt nam.

Với nhiều đặc thù và hình thái địa lý như vậy, Việt nam cũng đươc phân chia thành các xã khu vực để tiện trong việc quản lý hành chính địa lý (theo Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 phê duyệt Danh sách các xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025).

Tiêu chí để phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển giai đoạn 2021-2025 được xác định như sau:

  1. Xã khu vực I (xã bước đầu phát triển) thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là xã thuộc đối tượng áp dụng quy định tại Điều 2 Quyết định số 33/2020/QĐ-TTgvà có 1 trong 2 tiêu chí sau: 1- Có tỉ lệ hộ nghèo dưới 10%; 2- Đã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới.
  2. Xã khu vực II (xã còn khó khăn) thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là các xã còn lại sau khi đã xác định các xã khu vực III và xã khu vực I.
  3. Xã khu vực III (xã đặc biệt khó khăn) thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là xã thuộc đối tượng áp dụng quy định tại Điều 2 Quyết định số 33/2020/QĐ-TTg chưa được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới và có 1 trong 2 tiêu chí sau:
    1. Có tỉ lệ hộ nghèo từ 20% trở lên (riêng các xã thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có tỷ lệ hộ nghèo từ 15% trở lên hoặc có trên 150 hộ nghèo là hộ dân tộc thiểu số).
    2. Có tỉ lệ hộ nghèo từ 15% đến dưới 20% (riêng các xã thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có tỷ lệ hộ nghèo từ 12% đến dưới 15%) và có 1 trong các tiêu chí sau:
      • Có trên 60% tỉ lệ hộ nghèo là hộ dân tộc thiểu số trong tổng số hộ nghèo của xã;
      • Có số người dân tộc thiểu số trong độ tuổi từ 15 đến 60 chưa biết đọc, biết viết tiếng phổ thông từ 20% trở lên;
      • Số lao động có việc làm nhưng chưa qua đào tạo từ 3 tháng trở lên chiếm trên 80% tổng số lao động có việc làm;
      • Đường giao thông từ trung tâm huyện đến trung tâm xã dài trên 20 km, trong đó có trên 50% số km chưa được rải nhựa hoặc đổ bê-tông.

Chi tiết danh sách các xã khu vực I, II, III thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025

Văn hoá dân tộc

Nghệ An có 11/21 huyện, thị xã miền núi, với 252 xã, thị trấn miền núi. Trong đó có 107 xã và 1.188 thôn, bản đặc biệt khó khăn; 27 xã tiếp giáp với nước bạn Lào với chiều dài biên giới là 468 km. Diện tích toàn tỉnh 16.480 km2, trong đó khu vực miền núi là 13.745 km2 (chiếm 83%).

Dân số toàn tỉnh hơn 3,2 triệu người, trong đó miền núi có 1.197.628 người (chiếm 41%). Riêng đồng bào dân tộc thiểu số có 442.787 người, chiếm 15,2% dân số và chiếm 36% dân số trên địa bàn miền núi. Tỉnh có 5 dân tộc thiểu số chính, gồm: Thái 299.490 người, Thổ 62.751 người, Khơ Mú 45.890 người, Mông 30.433 người, Ơ Đu 1.085 người.

Đồng bào các dân tộc ở Nghệ An có truyền thống đoàn kết lâu đời trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, chế ngự thiên nhiên, khắc phục thiên tai và xây dựng quê hương, đất nước. Mỗi dân tộc có sắc thái văn hóa riêng, tạo nên sự đa dạng trong cộng đồng các dân tộc ở Nghệ An.

Trong thời kỳ đổi mới, nhất là từ khi có chương trình 135/CP, Nghị quyết 30a của Chính phủ và các chương trình xóa đói giảm nghèo, chính sách lớn về phát triển kinh tế – xã hội miền núi, tình hình miền núi và các vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Nghệ An có bước chuyển biến quan trọng. Quyền bình đẳng giữa các dân tộc được thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đoàn kết giữa các dân tộc được củng cố. Kinh tế vùng dân tộc từng bước phát triển, cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa. Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội và đời sống nhân dân ở vùng dân tộc được cải thiện rõ rệt. Công tác xóa đói giảm nghèo đạt được kết quả to lớn. Mặt bằng dân trí được nâng lên; công tác phổ cập giáo dục tiểu học, THCS và xóa mù chữ cơ bản được thực hiện tốt. Văn hóa truyền thống các dân tộc ở Nghệ An được tôn trọng, giữ gìn và phát huy. Các loại dịch bệnh cơ bản được ngăn chặn và đẩy lùi; việc khám chữa bệnh cho người nghèo vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc được quan tâm hơn.

Hệ thống chính trị vùng dân tộc và miền núi được tăng cường và củng cố. Tình hình chính trị, trật tự xã hội cơ bản ổn định; an ninh biên giới được giữ vững.

Từ năm 2011 đến nay Ban Thường vụ Tỉnh ủy, UBND tỉnh Nghệ An chủ động phân công các sở, ban, ngành, cơ quan cấp tỉnh và các ngân hàng thương mại trên địa bàn nhận giúp đỡ các xã khó khăn: Năm 2011: 44 cơ quan giúp 44 xã nghèo thuộc các huyện miền núi cao Kỳ Sơn, Tương Dương, Quế Phong và một số huyện khó khăn khác. Năm 2022: 117 cơ quan, đơn vị nhận giúp 117 xã nghèo. Phương thức giúp đỡ: Tùy điều kiện cụ thể từng cơ quan, đơn vị để giúp đỡ, trong đó tập trung: Hướng dẫn, tập huấn kỹ thuật cho nhân dân sản xuất; Hướng dẫn xây dựng, củng cố hệ thống chính trị vững mạnh. Hỗ trợ giống bò sinh sản; Hỗ trợ giống cây; Hỗ trợ một số cơ sở vật chất phục vụ hoạt động của bộ máy Đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể cơ sở như máy vi tính, bàn ghế làm việc. Kết quả đến nay đã hỗ trợ hàng trăm con bò cho hộ nghèo (Công An tỉnh đã hỗ trợ đồng bào dân tộc xã Châu Hoàn – huyện Quỳ Châu 8 đợt với 105 con bê, đến nay sinh sản hơn 220 con). Riêng cán bộ Ban Dân vận Tỉnh ủy Nghệ An trong hai năm qua đã giúp đồng bào nghèo xã Thanh An, huyện Thanh Chương và xã Nam Sơn, huyện Quỳ Hợp 03 con bò, 1 ngôi nhà tình nghĩa và hàng trăm suất quà cho hộ nghèo trong dịp tết nguyên đán. Các đơn vị đã giúp đỡ xây dựng được 50 mô hình trồng lúa nước cho năng suất cao, hàng chục mô hình sản xuất, chăn nuôi có hiệu quả; củng cố hệ thống chính trị 100/117 xã đi vào hoạt động nề nếp, có hiệu quả.

Qua đó, nhận thức của cán bộ và nhân dân các xã miền núi được giúp đỡ được nâng lên, từng bước giảm tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước, biết áp dụng khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, chăn nuôi; công tác chỉ đạo, điều hành của cấp ủy đảng, chính quyền và hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể ở các xã được giúp đỡ có hiệu quả hơn. Cán bộ các sở, ban, ngành cấp tỉnh hiểu dân hơn, hiểu những khó khăn của cơ sở nên trong tham mưu chủ trương, chính sách cho lãnh đạo tỉnh sát với thực tế hơn, hợp lòng dân hơn.

Tình hình kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã có nhiều đổi mới, đời sống nhân dân cơ bản được nâng lên.

Kinh tế tiếp tục phát triển, tăng trưởng bình quân các huyện miền núi hàng năm từ 9-13%, đã xây dựng được nhiều mô hình kinh tế có giá trị kinh tế cao như chanh leo (Tri Lễ, Quế Phong) cho giá trị 500 triệu đồng/ha, cam V2 – Quỳ Hợp cho giá trị 1,2 tỷ/ha (500ha), vịt bầu – Quỳ Châu, lợn đen, khoai sọ, bí xanh – Kỳ Sơn…

Văn hóa xã hội các huyện miền núi có nhiều tiến bộ, gìn giữ và phát huy tốt bản sắc văn hóa dân tộc, các lễ hội như Hang Bua – Quỳ Châu, đền 9 gian ở Quế Phong, mở các lớp học tiếng Thái được tổ chức hàng năm. Công tác giáo dục các huyện miền núi có tiến bộ, số học sinh giỏi, học sinh đậu đại học, cao đẳng tăng lên. Các hủ tục trong ma chay, cưới hỏi, chữa bệnh không đến bệnh viện… cơ bản được xóa bỏ. Tỷ lệ đói nghèo các huyện miền núi giảm bình quân 3 – 4%/năm. Thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, tết vì người nghèo năm 2023 Nghệ An vận động các tổ chức, cá nhân, nhà hảo tâm ủng hộ được trên 100 tỷ đồng.

Trong những năm qua đồng bào các dân tộc ở Nghệ An đã đoàn kết chống lại âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch trên địa bàn, không để phức tạp xảy ra. Hiện nay các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để kích động, chia rẽ giữa các dân tộc anh em, chống phá Đảng, chính quyền, trong đó có “Tây Nghệ An”. Do làm tốt công tác dân vận nên nhân dân các dân tộc ở Nghệ An đã không nghe kẻ xấu, thường xuyên cung cấp thông tin cho công an, bộ đội biên phòng, chính quyền cơ sở để phá tan các âm mưu của các thế lực thù địch để miền Tây Nghệ An luôn ổn định, 468km biên giới Việt – Lào yên, nhân dân 2 bên biên giới Việt – Lào đoàn kết, tin tưởng lẫn nhau (kết nghĩa giữa bản, cụm bản biên giới 2 bên tốt).

Công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã góp phần ngăn chặn, chống truyền đạo trái phép lên miền núi, dân tộc. Trong những năm gần đây chủ trương của giáo hội là phát triển đạo lên miền Tây Nghệ An. Công tác dân vận đã tuyên truyền để nhân dân các dân tộc hiểu là mình đã có bản sắc văn hóa riêng rồi không cần phải có tôn giáo nữa, từ đó hạn chế và đẩy lùi việc truyền đạo lên miền núi.

Tuy nhiên, nhìn chung, kinh tế ở miền núi và vùng dân tộc Nghệ An còn chậm phát triển, nhiều nơi tập quán canh tác còn lạc hậu. Tình trạng du canh, du cư, di dịch cư tự do còn diễn ra. Kết cấu hạ tầng ở một số vùng cao, vùng sâu (Kỳ Sơn, Quế Phong, Tương Dương, Quỳ Châu) còn thấp kém. Đồng bào dân tộc chưa sống được bằng kinh tế rừng và chưa gắn bó với nghề rừng. Tỷ lệ đói nghèo còn cao so với bình quân chung của tỉnh; chất lượng giáo dục một số nơi còn thấp, đào tạo nghề chưa được quan tâm đúng mức. Một số tập tục lạc hậu, mê tín dị đoan chưa được đẩy lùi. Một số bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số đang bị mai một. Hệ thống chính trị một số nơi còn yếu kém, năng lực đoàn kết tập hợp đoàn viên, hội viên còn hạn chế.

Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, sắp tới Nghệ An cần tập trung làm tốt những việc trọng tâm sau:

Thứ nhất, thực hiện tốt Chỉ thị 49- CT/TW và Đề án số 02-ĐA/TU ngày 10/10/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về “Tăng cường công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2016-2020 và những năm tiếp theo”, gắn với thực hiện Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 25 – CTr/TU ngày 20/11/2013 về thực hiện Nghị quyết 25 – NQ/TW trên địa bàn Nghệ An. Thông qua chương trình hành động đã xây dựng 5 Đề án (Đề án số 06 về Dân vận khéo; Đề án 08 đưa công tác dân vận vào giảng dạy tại Trường Chính trị tỉnh, Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện; Đề án 09 về thực hiện công tác dân vận và QCDC cơ sở trong giải phóng mặt bằng, tái định cư; Đề án về công tác tôn giáo; Đề án về xây dựng quy chế phối hợp giữa MTTQ và các đoàn thể với chính quyền các cấp; Đề án hỗ trợ chế độ cho hoạt động tổ dân vận xóm, bản…), qua đó đã góp phần thực hiện tốt công tác đại đoàn kết trên địa bàn.

Thứ hai, tăng cường công tác tuyên truyền để nâng nhận thức cho cán bộ, đảng viên và các tổ chức trong hệ thống chính trị về vai trò, tầm quan trọng của công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc dân tộc thiểu số trong tình hình mới. Chú trọng phổ biến, quán triệt các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về dân tộc và công tác dân tộc đến với đồng bào miền núi.

Thứ ba, tập trung chỉ đạo xây dựng mô hình về phát triển kinh tế – xã hội trong đồng bào dân tộc, tổng kết, hướng dẫn đồng bào thực hiện và nhân rộng, như mô hình chanh leo, cam V2, lợn đen, vịt bầu Quỳ Châu, bò vàng Kỳ Sơn.. .

Thứ tư, phát huy vai trò của người có uy tín, già làng, trưởng bản để làm nòng cốt trong công tác vận động quần chúng, xây dựng khối đại đoàn kết trên địa bàn. Không đẻ kẻ địch lợi dụng chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc.

Thứ năm, tiếp tục vận động, phân công các cơ quan, đơn vị nhận giúp đỡ các các xã, bản khó khăn ở vùng miền núi, dân tộc. Vừa giúp đỡ về vật chất, vừa quan tâm giúp đỡ củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở vùng sâu, vùng xa.

Thứ sáu, thường xuyên thông tin, trao đổi các chủ trương, chính sách, tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cốt cán, người có uy tín nhất là công tác vận động quần chúng, công tác đấu tranh với những hoạt động vi phạm pháp luật. Chăm lo thực hiện các chính sách đối với cán bộ làm công tác dân vận khi gặp khó khăn.

Thực hiện tốt công tác dân vận vùng đồng bào dân tộc thiểu số là góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, tạo đồng thuận cao trong nhân dân để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh trên địa bàn, sớm đưa tỉnh Nghệ An thành tỉnh khá của miền Bắc như sinh thời Bác Hồ hằng mong muốn./.

            Nguyễn Mạnh Khôi 

                        Phó trưởng ban TT Ban Dân vận Tỉnh ủy 

Lời giới thiệu

Liên minh HTX Việt Nam được Chính phủ giao thực hiện nội dung “Hỗ trợ xây dựng và duy trì chợ sản phẩm trực tuyến vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi” thuộc Tiểu dự án 2 – Dự án 10 của Chương trình mục tiêu Quốc gia Phát triển Kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Cổng thông tin được tạo lập nhằm hỗ trợ các đơn vị trong và ngoài hệ thống Liên minh HTX Việt Nam triển khai chương trình này và các nội dung có liên quan.

Giới thiệu Chương trình MTQG phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN
Nhằm thực hiện Nghị quyết số 120/2020/QH14 ngày 19 tháng 6 năm 2020 của Quốc hội về phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030 được đồng bộ, kịp thời, thống nhất và có hiệu quả, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14 tháng 10 năm 2021 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025.
Chương trình chia thành 10 dự án thành phần với các tiểu dự án và mục tiêu cụ thể:

Dự án 1: Giải quyết tình trạng thiếu đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt.
Dự án hướng tới mục tiêu: Hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo; hộ nghèo dân tộc Kinh sinh sống tại xã đặc biệt khó khăn, thôn đặc biệt khó khăn chưa có đất ở, nhà ở hoặc có nhà ở tạm, dột nát được hỗ trợ đất ở, xây dựng nhà ở đảm bảo 3 cứng (nền cứng, khung – tường cứng, mái cứng) phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương. Phấn đấu đạt 90% hộ dân tộc thiểu số nghèo; hộ nghèo dân tộc Kinh sinh sống tại xã đặc biệt khó khăn, thôn đặc biệt khó khăn làm nghề nông, lâm, ngư nghiệp không có hoặc thiếu trên 50% đất sản xuất theo định mức của địa phương được giải quyết tình trạng thiếu đất sản xuất hoặc hỗ trợ chuyển đổi nghề. Góp phần đạt 90% hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo; hộ nghèo dân tộc Kinh sinh sống tại xã đặc biệt khó khăn, thôn đặc biệt khó khăn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn do cơ quan có thẩm quyền ban hành. Tăng cường tạo việc làm, hỗ trợ chuyển đổi nghề phù hợp với nhu cầu, điều kiện của người dân tộc thiểu số và địa bàn sinh sống.

Dự án 2: Quy hoạch, sắp xếp, bố trí, ổn định dân cư ở những nơi cần thiết.
Dự án nhằm ổn định và nâng cao đời sống của người dân, hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại do thiên tai, du canh, du cư, di cư tự do; giải quyết sinh kế, tăng thu nhập, góp phần giảm nghèo, bảo vệ môi trường và củng cố an ninh, quốc phòng.

Dự án 3: Phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp bền vững, phát huy tiềm năng, thế mạnh của các vùng miền để sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị.
Dự án gồm 3 tiểu dự án: Tiểu dự án Phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp bền vững gắn với bảo vệ rừng và nâng cao thu nhập cho người dân nhằm tạo việc làm, thu nhập cho người dân làm nghề rừng; hỗ trợ phát triển kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp, đặc biệt là phát triển kinh tế dưới tán rừng gắn với bảo vệ rừng bền vững tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, góp phần duy trì ổn định tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học, giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu.
Tiểu dự án Hỗ trợ phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, vùng trồng dược liệu quý, thúc đẩy khởi sự kinh doanh, khởi nghiệp và thu hút đầu tư vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Tiểu dự án nhằm hỗ trợ các dự án phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị phù hợp với từng vùng, miền; khai thác tiềm năng lợi thế theo hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi có hiệu quả, tạo việc làm nâng cao thu nhập cho hộ dân, giảm nghèo bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Bước đầu hình thành hệ thống chuỗi giá trị phát triển dược liệu quý; hình thành ý thức nuôi trồng dược liệu theo chuỗi giá trị và bảo tồn nguồn gien dược liệu đảm bảo các quy trình và tiêu chuẩn quản lý chất lượng; kết hợp bảo vệ và phát triển rừng bền vững. Thúc đẩy, hỗ trợ quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng hàng hóa, dịch vụ ở khu vực các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp, khởi sự kinh doanh trong đồng bào dân tộc thiểu số dựa trên tiềm năng, thế mạnh và nguồn tài nguyên sẵn có tại địa phương; tạo việc làm và thu nhập ổn định kết hợp với bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, tri thức truyền thống của cộng đồng các dân tộc thiểu số.
Tiểu dự án Phát triển kinh tế xã hội – mô hình bộ đội gắn với dân bản vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nhằm xây dựng các mô hình gắn kết quân dân, mô hình giảm nghèo bền vững gắn phát triển kinh tế – xã hội với xây dựng thế trận phòng thủ và thế trận bảo đảm hậu cần tại các địa bàn chiến lược.

Dự án 4: Đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu, phục vụ sản xuất, đời sống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi và các đơn vị sự nghiệp công lập của lĩnh vực dân tộc.
Dự án gồm 2 tiểu dự án: Tiểu dự án Đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu, phục vụ sản xuất, đời sống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nhằm tăng cường cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và dân sinh ở các xã đặc biệt khó khăn, các thôn đặc biệt khó khăn; đầu tư đường đến trung tâm xã và cứng hóa đường đến trung tâm xã, liên xã, cụ thể: 100% xã có đường ô tô đến trung tâm xã được rải nhựa hoặc bê tông; 70% thôn có đường ô tô đến trung tâm được cứng hóa; 100% số trường, lớp học và trạm y tế được xây dựng kiên cố; 99% số hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia và các nguồn điện khác phù hợp; 100% đồng bào dân tộc thiểu số được xem truyền hình và nghe đài phát thanh.
Tiểu dự án Đầu tư cơ sở vật chất các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực công tác dân tộc nhằm củng cố, tăng cường cơ sở vật chất, năng lực đào tạo các trường dự bị đại học, trường phổ thông dân tộc nội trú; nâng cao chất lượng đào tạo hệ dự bị đại học cho học sinh dân tộc thiểu số để bảo đảm chất lượng đào tạo đại học người dân tộc thiểu số.

Dự án 5: Phát triển giáo dục đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Dự án 5 gồm 4 tiểu dự án: Thứ nhất: Đổi mới hoạt động, củng cố phát triển các trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường phổ thông có học sinh ở bán trú và xóa mù chữ cho người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tiểu dự án nhằm củng cố và phát triển hợp lý hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường phổ thông có học sinh ở bán trú; đầu tư bổ sung, nâng cấp cơ sở vật chất cho các trường chưa đạt chuẩn quốc gia để đảm bảo tốt việc tổ chức dạy – học (bao gồm cả các hoạt động dạy và học trực tuyến), nuôi dưỡng và chăm sóc học sinh bán trú, nội trú. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên các trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường phổ thông có học sinh ở bán trú. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm về công tác xoá mù chữ, tiếp tục duy trì và nâng cao hiệu quả công tác xoá mù chữ.
Thứ hai: Bồi dưỡng kiến thức dân tộc; đào tạo dự bị đại học, đại học và sau đại học đáp ứng nhu cầu nhân lực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Tiểu dự án nhằm nâng cao, cập nhật kiến thức dân tộc, văn hóa dân tộc thiểu số, chính sách dân tộc cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác dân tộc; bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đào tạo dự bị đại học, đại học và sau đại học nhằm góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Thứ ba, Phát triển giáo dục nghề nghiệp và giải quyết việc làm cho người lao động vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Tiểu dự án nhằm ở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục nghề nghiệp góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; Hỗ trợ lao động là người dân tộc thiểu số tiếp cận thuận lợi với thông tin thị trường lao động, dịch vụ hỗ trợ tìm kiếm, kết nối việc làm; hỗ trợ thanh niên dân tộc thiểu số sau khi tốt nghiệp các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp tìm kiếm được việc làm phù hợp với khả năng, nguyện vọng.
Thứ tư, Đào tạo nâng cao năng lực cho cộng đồng và cán bộ triển khai Chương trình ở các cấp. Tiểu dự án nhằm đào tạo, nâng cao năng lực cho cán bộ thực hiện Chương trình (bao gồm: Quy trình triển khai dự án, tiểu dự án của Chương trình; quy trình, kỹ năng làm chủ đầu tư, nghiệp vụ đấu thầu, quản lý tài chính và thanh quyết toán; quy trình lập kế hoạch; kiểm tra, giám sát và báo cáo kết quả thực hiện), các kỹ năng về phát triển cộng đồng và các nội dung liên quan khác cho cán bộ cơ sở thực hiện Chương trình cấp xã và cấp thôn.

Dự án 6: Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch.
Dự án hướng tới mục tiêu hướng tới mục tiêu: Khôi phục, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống, bồi dưỡng, đào tạo cán bộ văn hóa; hỗ trợ cơ sở vật chất, trang thiết bị văn hóa cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi để nâng cao mức thụ hưởng về văn hóa cho đồng bào các dân tộc gắn với phát triển du lịch cộng đồng, trong đó ưu tiên các dân tộc thiểu số rất ít người.

Dự án 7: Chăm sóc sức khỏe Nhân dân, nâng cao thể trạng, tầm vóc người dân tộc thiểu số; phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em.
Dự án hướng tới mục tiêu: Cải thiện sức khoẻ của người dân tộc thiểu số về thể chất và tinh thần, tầm vóc, tuổi thọ. Tăng cường công tác y tế cơ sở để đồng bào dân tộc thiểu số được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe hiện đại. Tiếp tục khống chế, tiến tới loại bỏ dịch bệnh ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Dự án 8: Thực hiện bình đẳng giới và giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ và trẻ em.
Dự án hướng tới mục tiêu: Nâng cao nhận thức, thay đổi định kiến, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, bảo vệ, chăm sóc phụ nữ và trẻ em, thực hiện mục tiêu bình đẳng giới.

Dự án 9: Đầu tư phát triển nhóm dân tộc thiểu số rất ít người và nhóm dân tộc còn nhiều khó khăn.

Dự án gồm 2 tiểu dự án:
Tiểu dự án 1: Đầu tư phát triển kinh tế – xã hội các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, dân tộc có khó khăn đặc thù nhằm: Xóa đói, giảm nghèo nhanh, bền vững, nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, dân tộc có khó khăn đặc thù, thu hẹp khoảng cách về mức sống, thu nhập so với các dân tộc khác trong vùng; góp phần nâng cao chất lượng y tế, giáo dục, hỗ trợ cải thiện chất lượng dân số, thực hiện bình đẳng giới và giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ và trẻ em; bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc; đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ, cộng đồng và xây dựng cơ sở chính trị ở thôn bản vững mạnh; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Đầu tư phát triển bền vững người Đan Lai (thuộc dân tộc Thổ) gắn với bảo vệ phát triển rừng, môi trường sinh thái tại Vườn Quốc gia Pù Mát, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
Tiểu dự án 2: Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nhằm: huyển đổi nhận thức, hành vi trong hôn nhân của đồng bào dân tộc thiểu số góp phần giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhất là nhóm các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, dân tộc có khó khăn đặc thù; Trên 90% cán bộ làm công tác dân tộc các cấp, cán bộ văn hóa – xã hội xã được tập huấn nâng cao năng lực, kỹ năng vận động, tư vấn, truyền thông thay đổi hành vi về tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vào năm 2025; Giảm bình quân 2% – 3%/năm số cặp tảo hôn và 3% – 5%/năm số cặp kết hôn cận huyết thống đối với các địa bàn, dân tộc thiểu số có tỷ lệ tảo hôn, kết hôn cận huyết thống cao; Đến năm 2025, phấn đấu ngăn chặn, hạn chế tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Dự án 10: Truyền thông, tuyên truyền, vận động trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Kiểm tra, giám sát đánh giá việc tổ chức thực hiện Chương trình.

Dự án gồm 3 tiểu dự án:
Tiểu dự án 1: Biểu dương, tôn vinh điển hình tiên tiến, phát huy vai trò của người có uy tín; phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý và tuyên truyền, vận động đồng bào; truyền thông phục vụ tổ chức triển khai thực hiện Đề án tổng thể và Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030. Tiểu dự án hướng tới mục tiêu: Xây dựng, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác vận động, phát huy vai trò của lực lượng cốt cán và người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Biểu dương, tôn vinh, ghi nhận công lao, sự đóng góp của các điển hình tiên tiến trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao nhận thức cho già làng, trưởng bản, người có uy tín, chức sắc tôn giáo, đồng bào dân tộc thiểu số và Nhân dân. Bảo đảm công bằng trong tiếp cận công lý của người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xây dựng các mô hình điểm giúp đồng bào kịp thời tiếp cận và thụ hưởng hoạt động trợ giúp pháp lý chất lượng để được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi gặp vướng mắc, tranh chấp pháp luật.
Tiểu dự án 2: Ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội và đảm bảo an ninh trật tự vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Tiểu dự án hướng tới mục tiêu: Hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số được tiếp cận thông tin về khoa học công nghệ và quảng bá các sản phẩm của địa phương cho bạn bè trong nước và thế giới. Nâng cao khả năng ứng dụng và sử dụng công nghệ thông tin hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030.
Tiểu dự án 3: Kiểm tra, giám sát, đánh giá, đào tạo, tập huấn tổ chức thực hiện Chương trình. Tiểu dự án hướng tới mục tiêu: Thiết lập hệ thống giám sát, đánh giá đồng bộ, toàn diện đáp ứng yêu cầu quản lý Chương trình. Tổ chức kiểm tra, giám sát, đánh giá việc tổ chức thực hiện Chương trình, đảm bảo Chương trình thực hiện đạt được mục tiêu đề ra./.

Các dân tộc thiểu số tỉnh Nghệ An

Dân số toàn tỉnh hơn 3,2 triệu người, trong đó miền núi có 1.197.628 người (chiếm 41%). Riêng đồng bào dân tộc thiểu số có 442.787 người, chiếm 15,2% dân số và chiếm 36% dân số trên địa bàn miền núi. Tỉnh có 5 dân tộc thiểu số chính, gồm: Thái 299.490 người, Thổ 62.751 người, Khơ Mú 45.890 người, Mông 30.433 người, Ơ Đu 1.085 người.