Author Archives: Liên minh HTX Nghệ An

Chính phủ ban hành Nghị định số 24/2023/NĐ-CP ngày 14/5/2023 …

Nghị định số 24/2023/NĐ-CP ngày 14/5/2023 của Chính phủ quy định:

1) Đối tượng áp dụng, bao gồm:

1. Cán bộ, công chức từ Trung ương đến cấp huyện quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019).

2. Cán bộ, công chức cấp xã quy định tại Khoản 3 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019).

3. Viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định tại Luật Viên chức năm 2010 (sửa đổi, bổ sung tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019).

4. Người làm các công việc theo chế độ hợp đồng lao động quy định tại Nghị định số 111/2022/NĐ-CP ngày 30/12/2022 của Chính phủ về hợp đồng đối với một số loại công việc trong cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập thuộc trường hợp được áp dụng hoặc có thỏa thuận trong hợp đồng lao động áp dụng xếp lương theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang.

5. Người làm việc trong chỉ tiêu biên chế tại các hội được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động theo quy định tại Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội (sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 33/2012/NĐ-CP ngày 13/4/2012 của Chính phủ).

6. Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ, công nhân, viên chức quốc phòng và lao động hợp đồng thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam.

7. Sĩ quan, hạ sĩ quan hưởng lương, hạ sĩ quan, chiến sĩ nghĩa vụ, công nhân công an và lao động hợp đồng thuộc Công an nhân dân.

8. Người làm việc trong tổ chức cơ yếu.

9. Người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn và tổ dân phố.

2) Từ ngày 01/7/2023, mức lương cơ sở là 1.800.000 đồng; dùng làm căn cứ:

1. Tính mức lương trong các bảng lương, mức phụ cấp và thực hiện các chế độ khác theo quy định của pháp luật đối với 09 đối tượng nêu trên.

2. Tính mức hoạt động phí, sinh hoạt phí theo quy định của pháp luật.

3. Tính các khoản trích và các chế độ được hưởng theo mức lương cơ sở.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2023 và Nghị định số 38/2019/NĐ-CP ngày 09/5/2019 của Chính phủ hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.

Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành Thông tư số 03/2023/TT-BTTTT

Ngày 30/5/2023, Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Phạm Đức Long ký ban hành Thông tư số 03/2023/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông: Hướng dẫn thực hiện một số nội dung về thông tin và truyền thông trong Tiểu dự án 1 và Tiểu dự án 2 thuộc Dự án 10 của Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025. Cụ thể:

– Nhiệm vụ thông tin đối ngoại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thuộc Tiểu dự án 10.1 của Chương trình;

– Nhiệm vụ hỗ trợ thiết lập các điểm hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số ứng dụng công nghệ thông tin tại Ủy ban nhân dân cấp xã để phục vụ phát triển kinh tế – xã hội và đảm bảo an ninh trật tự thuộc Tiểu dự án 10.2 của Chương trình (viết tắt là điểm hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số ứng dụng CNTT).  Theo đó, địa bàn thiết lập điểm hỗ trợ đồng bào DTTS ứng dụng CNTT là các xã thuộc tiêu chí phân bổ vốn thực hiện Tiểu dự án 10.2 (quy định tại Phụ lục X của Quyết định số 39/2021/QĐ-TTg ngày 30/12/2021 của Thủ tướng Chính phủ) bao gồm: Xã đặc biệt khó khăn (xã khu vực III) và xã không thuộc khu vực III có thôn đặc biệt khó khăn. Mỗi xã thiết lập một điểm hỗ trợ, được hỗ trợ sử dụng dịch vụ truy nhập internet băng rộng theo Chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích đến năm 2025. Các điểm hỗ trợ này thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ đồng bào DTTS ứng dụng CNTT; hỗ trợ cho bà con tiếp cận thông tin về đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước qua mạng internet. Hỗ trợ bà con sử dụng dịch vụ công trực tuyến; học tập, nâng cao trình độ, kiến thức, kỹ năng sản xuất, phát triển kinh tế, thương mại, khoa học kỹ thuật, văn hóa – xã hội, kiến thức về đảm bảo an ninh, trật tự.

Thông tư có hiệu lực kể từ ngày ký, là cơ sở để thực hiện Tiểu dự án 1 và Tiểu dự án 2 thuộc Dự án 10 của Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030, giai đoạn I: Từ năm 2021 đến năm 2025./.

Xem chi tiết

Bộ Y tế ban hành Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 10/2022/TT-BYT …

Ngày 06/6/2023, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 12/2023/TT-BYT về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 10/2022/TT-BYT ngày 22/9/2022 của Bộ trưởng Bộ Y tế Hướng dẫn triển khai nội dung Đầu tư, hỗ trợ phát triển vùng trồng dược liệu quý thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025.

Theo đó, Thông tư gồm 3 Điều, nội dung trọng tâm sửa đổi, bổ sung 02 Điều (Điều 7, Điều 8) và 07 khoản thuộc 04 Điều (Điều 2, Điều 6, Điều 12, Điều 14). Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.

Thông tư được ban hành là cơ sở để các đơn vị triển khai thực hiện Nội dung số 01 – Hỗ trợ vùng trồng dược liệu quý, đang còn vướng mắc về hướng dẫn thuộc Tiểu dự án 2, Dự án 3, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025 trên địa bàn tỉnh Nghệ An./.

Xem chi tiết

Chính phủ ban hành Nghị định số 38/2023/NĐ-CP ngày 24/6/2023 …

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Chính phủ ban hành Nghị định số 38/2023/NĐ-CP ngày 24 tháng 6 năm 2023 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 27/2022/NĐ-CP ngày 19 tháng 4 năm 2022 của Chính phủ quy định cơ chế quản lý, tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia.

Theo đó, Nghị định gồm 3 Điều, nội dung trọng tâm sửa đổi, bổ sung 16 Điều (Điều 5, Điều 6, Điều 7, Điều 9, Điều 11, Điều 13, Điều 18, Điều 19, Điều 20, Điều 21, Điều 22, Điều 23, Điều 34, Điều 36, Điều 38, Điều 40) và 06 khoản thuộc 06 Điều (khoản 11 Điều 3, khoản 1 Điều 10, khoản 3 Điều 26, khoản 2 Điều 35, khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 39).

Phụ lục kèm theo Nghị định có 06 mẫu: Biên bản nghiệm thu khối lượng hoàn thành trong thực hiện chính sách hỗ trợ; Giấy đề nghị; Bảng kê danh sách và mức hỗ trợ của đối tượng chính sách; Đơn đề nghị về việc hỗ trợ thực hiện dự án, kế hoạch phát triển sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị; Tên dự án, kế hoạch liên kết; Bản thảo thuận về việc cử đơn vị làm chủ trì liên kết.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.

Nghị định được ban hành là căn cứ để các bộ, ngành, địa phương sửa đổi, bổ sung các văn bản hướng dẫn thực hiện đồng thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia./.

Chi tiết Nghị định.

Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 18/2023/QĐ-TTg ngày 01/7/2023 …

Theo đề nghị của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 18/2023/QĐ-TTg ngày 01 tháng 7 năm 2023 Sửa đổi, bổ sung và bãi bỏ một số điều của Quyết định số 39/2021/QĐ-TTg ngày 30 tháng 12 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025.

Theo đó, Quyết định gồm 3 Điều, nội dung trọng tâm:

– Bãi bỏ quy định: “phân bổ cho Ủy ban Dân tộc: không quá 17% tổng số vốn của tiểu dự án” quy định tại điểm a, khoản 2.1, Tiểu dự án 2, Phụ lục III.

– Sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 1 Điều 6; điểm 1.1 Tiểu dự án 2, Phụ lục IV; điểm b khoản 2.2 Tiểu dự án 2, Phụ lục V.

– Sửa đổi tổng điểm của tiêu chí số 2, điểm b khoản 4.2 Tiểu dự án 4, Phụ lục V; điểm a khoản 2 Tiểu dự án 2, Phụ lục X.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.

Quyết định được ban hành là căn cứ để các bộ, ngành, địa phương sửa đổi, bổ sung các văn bản hướng dẫn thực hiện phù hợp với tình hình thực tế trong triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi./.

Chi tiết Quyết định số 18/2023/QĐ-TTg

UBND tỉnh Nghệ An ban hành Quy chế nâng bậc lương trước thời hạn đối với cán bộ, công chức, …

Ngày 09/6/2023 UBND tỉnh có Quyết định số 12/2023/QĐ-UBND Ban hành Quy chế nâng bậc lương trước thời hạn đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

Quy chế gồm 03 Chương, 6 Điều và 19 Khoản, có hiệu lực kể từ ngày 20/6/2023; quy định về việc nâng bậc lương trước thời hạn đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động xếp lương theo bảng lương quy định tại Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và các hội có tính chất đặc thù được giao số người làm việc thuộc thẩm quyền quản lý của UBND tỉnh Nghệ An; Cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc nâng bậc lương trước thời hạn.

Có 7 nguyên tắc nâng bậc lương trước thời hạn:

1. Việc xem xét, quyết định nâng bậc lương trước thời hạn phải bảo đảm tính công khai, công bằng, dân chủ, khách quan.

2. Việc nâng bậc lương trước thời hạn được xét từ thành tích cao nhất đến thành tích thấp hơn, trường hợp có nhiều thành tích như nhau thì thực hiện quy chế nâng bậc lương trước thời hạn của cơ quan, đơn vị trên cơ sở thứ tự ưu tiên như sau:

a) Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động có thành tích xuất sắc đã xét trong đợt nâng lương trước thời hạn kỳ trước nhưng chưa được nâng do không còn chỉ tiêu;

b) Cán bộ, công chức, viên chức và người lao động nếu không nâng bậc lương trước thời hạn kỳ này thì không còn đủ điều kiện để nâng bậc lương trước thời hạn;

c) Cán bộ, công chức, viên chức và người lao động có thời gian công tác lâu năm, chưa được nâng bậc lương trước thời hạn lần nào hoặc mức lương còn thấp;

d) Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động là người dân tộc thiểu số, đang làm việc tại vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, miền núi, vùng sâu, vùng xa;

đ) Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động là nữ;

Trường hợp thành tích và thứ tự ưu tiên vẫn như nhau thì do Hội đồng xét nâng bậc lương trước thời hạn xem xét, quyết định.

3. Thời điểm nâng bậc lương trước thời hạn phải thực hiện trước thời điểm nâng bậc lương thường xuyên (tối đa 12 tháng).

4. Thành tích đạt được của các năm làm cơ sở để xét nâng bậc lương trước thời hạn trong chu kỳ lương không yêu cầu phải liên tục.

5. Trường hợp ngày ký quyết định nâng bậc lương trước thời hạn sau thời điểm được tính hưởng bậc lương mới thì cán bộ, công chức, viên chức, người lao động được truy lĩnh tiền lương; thực hiện truy nộp bảo hiểm xã hội phần chênh lệch tiền lương tăng thêm giữa bậc lương mới so với bậc lương cũ.

6. Không thực hiện hai lần liên tiếp nâng bậc lương trước thời hạn do lập thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ.

7. Trường hợp cán bộ, công chức, viên chức và người lao động vừa thuộc đối tượng được xét nâng bậc lương trước thời hạn do lập thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ, vừa thuộc đối tượng được xét nâng bậc lương trước thời hạn khi có thông báo nghỉ hưu thì cán bộ, công chức, viên chức và người lao động được chọn một trong hai chế độ nâng bậc lương trước thời hạn này.

Thành tích để xét nâng bậc lương trước thời hạn áp dụng theo chu kỳ lương, được xác định theo thời điểm ban hành quyết định công nhận thành tích đạt được trong khoảng thời gian 6 năm gần nhất đối với các ngạch, các chức danh có yêu cầu trình độ đào tạo từ cao đẳng trở lên và 4 năm gần nhất đối với các ngạch, các chức danh có yêu cầu trình độ đào tạo từ trung cấp trở xuống tính đến ngày 31/12 của năm xét nâng bậc lương trước thời hạn. Đối với các trường hợp đã được nâng bậc lương trước thời hạn thì tất cả các thành tích đạt được trước ngày có quyết định nâng bậc lương trước thời hạn trong khoảng thời gian (6 năm và 4 năm) này không được tính để xét nâng bậc lương trước thời hạn cho lần sau.

Tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong một cơ quan, đơn vị được nâng bậc lương trước thời hạn do lập thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ trong một năm không vượt quá 10% tổng số cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong danh sách trả lương của cơ quan, đơn vị

Có 02 mức thời gian được nâng lương trước thời hạn là 12 tháng và 6 tháng./.

(Quyết định số 12/2023/QĐ-UBND đính kèm)

Dân tộc Mông

Tộc người Mông thuộc nhóm ngôn ngữ Mông – Dao.Người Mông còn có các tên gọi khác là H”Mông, Mèo/Mẹo, Mèo Hoa (Mông Lềnh), Mán Trắng (Mông Đơ), Ná Miêu, Mạo. Ở Việt Nam, người Mông sinh sống tại miền núi các tỉnh: Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Hà Giang, Tuyên Quang, Thanh Hóa, Nghệ An.

Người Mông vào đến Nghệ An chậm hơn, cách đây khoảng 130 – 140 năm. Trên đường chuyển cư vào Nghệ An, có bộ phận qua Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa vào Nghệ An; có bộ phận qua Lào cư trú một thời gian mới qua Nghệ An.

Vào Nghệ An, người Mông cư trú tại 3 huyện rẻo cao dọc biên giới Việt – Lào là: Kỳ Sơn, Tương Dương và Quế Phong. Kỳ Sơn có 5 xã thuần Mông là Mường Lống, Huổi Tụ, Nậm Cắn, Tây Sơn, Đoọc Mạy và 3 xã gần thuần Mông là Bắc Lý, Na Ngoi, Mường Típ. Tương Dương có 6 xã có người Mông là Nhôn Mai, Tam Hợp, Mai Sơn, Lưu Kiền, Xá Lượng và Hữu Khuông. Quế Phong chỉ có ở xã Tri Lễ và Nậm Giải.

Người Mông chủ yếu sống du canh, du cư gắn với sản xuất nương rẫy, trình độ canh tác trên đất dốc cao hơn nhiều dân tộc khác, thể hiện rõ nhất trên nương định canh. Trên loại nương này, họ trồng hoa màu, cây thuốc chữa bệnh, cây lấy sợi dệt vải. Còn nương du canh thường trồng lúa, ngô và cây thuốc phiện. Trước đây, nương du canh thường được trồng trọt 5 – 6 vụ trước khi để bỏ hoang, nay chỉ 2 – 3 vụ. Người Mông ở Nghệ An khác với Mông ở Tây Bắc Việt Nam trong canh tác là không dùng cày, công cụ lao động chủ yếu là cuốc bướm tự chế tạo với nhiều kiểu dáng khác nhau phù hợp cho sử dụng vùng đất dốc. Nghề chăn nuôi khá phát triển, nhất là nuôi lợn và ngựa. Việc thu lượm lâm sản phụ được coi là một nguồn thu nhập đáng kể với những sản phẩm quý như đẳng sâm, cánh kiến đỏ, hà thủ ô, măng, nấm…. Săn bắn trở thành nghề phụ phổ biến đối với hầu hết nam giới ở tuổi trưởng thành.

Nghề thủ công của người Mông khá phát triển và đa dạng: Nghề rèn, khoan súng kíp, làm giấy bản, làm đồ trang sức bằng bạc,… trong đó nghề rèn là nổi tiếng nhất. Hai sản phẩm từ nghề rèn của đồng bào Mông rất được ưa chuộng là dao và lưỡi cày.

Nét văn hóa tiêu biểu của người Mông diễn ra trong các ngày tết như Tết Năm mới, Tết Đoan ngọ (mồng 5 tháng 5 âm lịch), lễ mừng cơm mới,… Trong các ngày lễ, đồng bào dân tộc Mông tổ chức các hoạt động văn hóa với các trò chơi dân gian như: Ném còn, bắn tên, đẩy gậy, kéo co, chơi khèn (vừa thổi vừa múa). Các loại kèn lá, kèn môi thường xuyên được sử dụng trong các đợt sinh hoạt tập thể. Văn hóa người Mông còn được thể hiện qua trang phục của người phụ nữ rất cầu kỳ với nhiều màu sắc và nhiều loại trang sức đẹp.

Đơn vị cư trú cơ bản của người Mông trước đây là “giào”, tương tự như bản của người Thái hay thôn, xóm của người Kinh, nhưng hộ gia đình ít hơn. Mỗi giào thường có từ 15 – 20 hộ thuộc một vào dòng họ. Giào có luật tục riêng và tương trợ giúp đỡ lẫn nhau. Đứng đầu giào là ông “Lùng thầu” do dân cử và có uy tín với dân chúng. Cũng có khi vai ba giào liên kết với nhau thành “liên giào” do “Nại bản” đứng đầu. Khoảng 10 – 15 giào hợp thành một “phống” do “Tà Xẻng” đứng đầu, sau này Tà xẻng còn gọi là Lý trưởng. Người chức sắc trong dân tộc Mông thuộc dòng họ rất lớn, rất có uy quyền và nhiều người kiêm luôn cả nghề thầy cúng. Tuy vậy, họ vẫn là người lao động trực tiếp và có quan hệ thân thiện với dân chúng.

Quan hệ dòng họ trong người Mông rất được coi trọng. Dù họ ở rất xa nhau và chưa quen biết nhau, nhưng những người cùng dòng họ đều có chung quy ước trong tập tục giao tiếp, thờ cúng, ma chay,… Mỗi họ mang tên một con vật với những kiêng kỵ mang ý nghĩa tô tem giống như người Thái, người Khơ Mú: họ Vừ, họ Và kiêng không ăn tim lợn; họ Lỳ kiêng ăn lá lách con vật 4 chân,… Gia đình người Mông là gia đình phụ quyền bền vững. Vợ chồng hiếm khi xảy ra ngoại tình hoặc ly hôn. Tập quán xử lý rất nghiêm đối với những gia đình bất hòa. Nếu chồng chết, chị dâu phải lấy em trai chồng. Người con trai trong gia đình được dạy làm quen với lao động và lễ nghi từ nhỏ như 10 tuổi đã thạo việc bắn nỏ và làm nương, 15 tuổi đã biết các bài cúng tổ tiên và khá thành thạo các nghề thủ công truyền thống. Từ đó, các chàng trai được đổi tên theo nghi lễ “thành đinh” và đã có thể “cướp vợ” theo tập quán của dân tộc mình. Tàn dư mẫu hệ cũng còn rất rõ nét trong tộc người Mông. Ông cậu có vai trò quan trọng trong việc gả chồng cho cháu gái như người cha thứ hai trong gia đình. Theo quan niệm của người Mông, có rất nhiệu loại ma như ma trâu, ma lợn, ma nhà, ma cửa,… và đồng bào cho rằng mọi vật đều có linh hồn.

Một số hình ảnh dân tộc Mông:

Ban Biên tập

Dân tộc Ơ Đu

Tộc người Ơ Đu thuộc nhóm Môn – Khơme. Tộc người này còn có tên là Tày Hạt. Đồng bào tự gọi tên dân tộc mình là Phrom Ơ Đu (người Ơ Đu). Mặc dù dân số hiện nay chỉ có trên dưới 1.000 người, nhưng tộc người Ơ Đu vẫn là một trong 54 thành phần dân tộc và 1 trong 5 dân tộc có dân số ít nhất Việt Nam.

Về nguồn gốc, theo tài liệu nghiên cứu của các nhà khoa học và truyền thuyết của người Ơ Đu: xưa kia người Ơ Đu khá đông đúc, cư trú suốt một vùng dọc sông Nậm Nơn và Nậm Mộ rộng lớn. Họ ở cả Việt Nam và Lào. Ở Việt Nam có 3 trung tâm chính là Mường Lằm (tức vùng xã Hữu Khuông và Hữu Dương), Xiềng Mèn (vùng xã Yên Na, Yên Tĩnh, Yên Hòa) huyện Tương Dương và Xốp Tăm (xã Tà Cạ, huyện Kỳ Sơn). Nghệ An là tỉnh duy nhất ở Việt Nam có người Ơ Đu sinh sống.

Người Ơ Ðu sinh sống chủ yếu bằng nương rẫy và một phần ruộng nước. Mỗi năm họ chỉ làm một vụ: phát, đốt, gieo hạt từ các tháng 4 – 5 âm lịch, thu hoạch vào các tháng 9 – 10. Công cụ làm rẫy gồm rìu, dao, gậy chọc lỗ. Ngoài lúa là giống cây trồng chính, còn trồng sắn, bầu, bí, ngô, ý dĩ, đỗ, hái lượm và săn bắn vẫn có vị trí quan trọng trong đời sống. Chăn nuôi trâu bò, lợn gà, dê khá phát triển. Trâu, bò dùng làm sức kéo, lợn gà sử dụng trong các dịp cưới, nghi lễ tín ngưỡng, cúng ma… Ðan lát đồ gia dụng bằng giang, mây, một phần tiêu dùng, phần để trao đổi. Ngược dòng thời gian khi mới ngụ cư họ còn biết dệt vải để mặc và trao đổi.

Trước đây, ngôi nhà truyền thống của người Ơ Đu là nhà sàn, phải dựng quay đầu vào núi (dựng chiều dọc). Khi dựng cột phải tuân theo một thứ tự nhất định. Nay kiểu nhà này không còn nữa. Họ ở sàn nhà giống như nhà sàn người Thái.Trang phục không có đặc tính tộc Ơ Đu mà chịu ảnh hưởng khá mạnh mẽ của cư dân Việt – Mường và Thái.

Về quan hệ xã hội, do số lượng dân số ít, sống xen kẽ với người Khơ Mú và Thái cho nên các mặt quan hệ xã hội văn hóa của họ chịu nhiều ảnh hưởng hai dân tộc này. Người Ơ Ðu lấy họ theo họ Thái, Lào. Tổ chức dòng họ rất mờ nhạt. Trưởng họ là người có uy tín, được kính trọng và có vai trò lớn trong dòng họ. Gia đình người Ơ Ðu là gia đình nhỏ phụ quyền. Ðàn ông quyết định tất thẩy các công việc trong nhà. Phụ nữ không được hưởng thừa tự. Họ phổ biến tục ở rể. Lễ vật trong dịp cưới không thể thiếu là thịt sóc, thịt chuột sấy khô và cá ướp muối.Phụ nữ đẻ ngồi tại góc nhà phía gian dành cho phụ nữ. Nhau trẻ bỏ vào ống tre đem chôn ngay dưới gầm sàn. Tuổi đứa con được tính từ ngày có tiếng sấm trong năm. Khi đó đứa bé được coi là đầy năm và được bố mẹ làm lễ đặt tên.

Người Ơ Ðu tin rằng khi người chết, hồn biến thành ma. Hồn thân thể ngụ tại bãi tha ma, hồn gốc ở chỏm tóc ở lại làm ma nhà. Ma nhà chỉ ở với con cháu một đời theo thứ tự từ con trai cả đến con trai thứ. Khi các con trai đã chết hết, người ta làm lễ tiễn ma nhà về với tổ tiên. Nơi thờ ma nhà tại góc hồi của gian thứ hai.

Người Ơ Ðu ăn tết Nguyên đán, tết cơm mới. Ngày hội lớn nhất là lễ đón tiếng sấm trong năm. Ngày đó, cư dân khắp nơi đổ về mở hội tế trời, mổ trâu, bò, lợn ăn mừng tại bản. Họ biết sử dụng thành thạo các loại nhạc cụ của người Khơ Mú, Thái như: sáo, khèn, chiêng, trống; thuộc các làn điệu dân ca Khơ Mú, Thái, kể chuyện dã sử.

Một số hình ảnh dân tộc Ơ đu:

Ban biên tập

Dân tộc Thổ

Tộc người Thổ ở Nghệ An hiện nay bao gồm các nhóm Cuối, Kẹo, Mọn, Họ, Đan Lai, Ly Hà và Tày Poọng.

Quá trình tụ cư của người Thổ ở Nghệ An khá phức tạp và còn nhiều tranh cãi. Phần lớn các học giả cho rằng quá trình tụ cư của người Thổ ở Nghệ An là quá trình cộng cư của 3 bộ phận: Bộ phận người Kinh ở miền xuôi chạy lên; Bộ phận người Kinh cư trú tại chỗ từ thời xa xưa (khu vực Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp) và bộ phận người Mường, người Kinh từ Thanh Hóa chạy sang. Địa bàn sinh sống hiện nay của người Thổ Nghệ An gồm hai khối cư trú tương đối tập trung nhưng lại ở cách xa nhau, gần như biệt lập với nhau. Khối cư dân ít hơn ở phía Nam bao gồm các nhóm Đan Lai – Ly Hà và Tày Poọng. Khối cư dân đông hơn ở phía Đông Bắc bao gồm các nhóm Kẹo, Mọn, Họ và Cuối.

Nhóm Kẹo, Họ phân bố ở Tân Kỳ, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp. Phần lớn người già ở đây vẫn đang nhớ về một vùng quê đồng bằng. Theo họ, tổ tiên của họ di cư đến vùng này khoảng 6 – 8 đời. Người Thổ thuộc nhóm Họ, Kẹo vẫn lưu truyền về biến động lịch sử một thời buộc tổ tiên họ phải di cư lên miền núi sinh sống để trốn tránh tô thuế nặng nề của chế độ phong kiến ở miền xuôi, hoặc để lẫn tránh các bệnh dịch. Một số bản gia phả dòng họ người Thổ ở Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn ghi rõ nơi ra đi của họ là từ Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Yên Thành.

Người Thổ sinh sống chủ yếu dựa vào kinh tế nương rẫy. Trình độ canh tác rẫy trên đất dốc khá cao thể hiện ở khâu làm đất bằng chiếc “cày nại” điển hình và cây gậy chọc lỗ bỏ hạt, làm cỏ,… Cùng với trồng lúa, đồng bào còn trồng xen ngô, đỗ, lạc, mía,… nhưng không nhiều. Người Thổ có nghề trồng gai và chế biến các sản phẩm từ cây gai khá phát triển và đậm nét bản sắc dân tộc. Sản phẩm từ gài như võng, lưới săn thú, lưới đánh cá,… rất được ưa chuộng. Hầu hết đàn ông đều biết đan lát và các sản phẩm như ghế mây, bồ đựng quần áo, hộp kim chỉ được đem đổi hoặc bán ra. Người Thổ ở một số nơi còn có nghề đánh bắt cá cổ truyền với nhiều công cụ đặc hữu. Nghề săn thú, nhất là săn tập thể, đã trở thành tập quán cổ truyền vừa có ý nghĩa kinh tế, vừa là một dạng hoạt động văn hóa mang tính chất truyền thống của cộng đồng. Các hình thức thu nhặt lâm thổ sản cũng đóng vai trò quan trọng trong đời sống của đồng bào Thổ, nhất là với nhóm Đan Lai, Ly Hà, Tày Poọng.

Nền văn hóa vật chất của người Thổ không có gì đặc sắc lắm. Nhà ở làm bằng gỗ rừng và tranh tre nứa lá giản đơn, cột ngoẵm, chỉ cần con dao và cái rìu là dựng được nhà. Nhà sàn của người Tày Poọng chịu ảnh hưởng của nhà sàn người Thái. Những biểu hiện văn hóa vật chất khác như trang phục, công cụ sản xuất mang tính pha tạp là dấu ấn của một dân tộc có nhiều nguồn dân cư khác nhau và chịu ảnh hưởng của các dân tộc khác cùng chung sống.

Sinh hoạt văn hóa của đồng bào dân tộc Thổ thường gắn với các lễ hội xuống đồng đầu năm; lễ đền Cồn làng,… Trong các dịp lễ hội, đồng bào dân tộc Thổ tổ chức nhiều hoạt động văn hóa với các làn điệu dân ca, dân vũ độc đáo mang đậm dấu ấn đặc trưng văn hóa của dân tộc mình như: Đu đu điềng điềng, Ên ên – Ạc ạc, Hát Thuôm, hát ghẹo, hát cuối, hát dặm, múa sạp,… Cùng với những nhạc cụ truyền thống như sáo, khèn, chiêng, trống, người Thổ còn có những nhạc cụ riêng như đàn Thổ, đàn tính tang. Sự hòa quyện âm thanh của các nhạc cụ truyền thống với những âm thanh của các nhạc cụ dân tộc Thái tạo nên những âm hưởng mang đậm sắc thái của dân tộc Thổ.

Ý thức cố kết cộng đồng của cư dân người Thổ khá bền vững thể hiện cao nhất về chế độ hôn nhân nội tộc của cộng đồng. Tuy các nhóm ở xa nhau nhưng quan hệ hôn nhân rất chặt chẽ. Kết hôn với người khác tộc rất hạn chế. Mối quan hệ giữa các thành viên trong làng bản là mối quan hệ tương thân tương ái, đoàn kết giúp nhau trong những việc như làm nhà mới, ngày gieo hạt,… Người Thổ sống thành làng có trùm làng do dân bầu ra. Tuy vậy, địa vị xã hội và đời sống kinh tế của trùm làng vẫn không biệt lập ra ngoài quan hệ cộng đồng cư trú làng cổ truyền.

Quan niệm của đồng bào Thổ về thế giới cõi âm rất phức tạp. Có nhiều loại thần và ma trong tín ngưỡng bao gồm nhân thần, thiên thần và cả thần những vật vô tri. Những người đầu tiên mở đất lập làng, những người chiến thắng trong các cuộc chinh chiến đều trở thành thần và được nhân dân thờ phụng. Tín ngưỡng vạn vật có linh hồn thể hiện rõ trong quan niệm về các loại ma như ma đồng, ma nhà, ma cây to đầu làng.

Một số hình ảnh dân tộc Thổ ở Nghệ An:

Ban biên tập

Dân tộc Khơ Mú

Tộc người Khơ Mú thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơme. Người Khơ – mú có nhiều tên gọi khác nhau. Ở Lào, người Khơ – mú được gọi chung một cái tên là Lào Thỏng, nghĩa là những người sống ở vùng giữa, lưng chừng sườn núi. Ở Nghệ An, người Khơ – mú tự nhận tên của mình là KhMụ – có nghĩa là Người. Họ còn được các tộc người khác đặt tên: Xá Cẩu, Xá Khao, Phu Thênh, Kha Mu, Căm Mụ, Tày Hạy, Mứn Xen… Năm 1979, sau nhiều cuộc điều tra xác định thành phần các dân tộc, các nhà khoa học đã công bố Danh mục Thành phần các dân tộc ở Việt Nam, tên gọi Khơ – mú là tên gọi thống nhất cho tộc người này trong cả nước.

Người Khơ – mú ở Nghệ An có nguồn gốc từ Lào di cư sang, cư dân Khơ – mú và dân tộc Ơ – đu là chủ nhân của vùng đất Tây Nghệ An – Thanh Hóa – Sơn La từ trước thế kỷ thứ X. Quá trình di cư của người Khơ – mú sang Việt Nam nói chung, miền núi Nghệ An nói riêng gắn với lịch sử của nước Lào. Ở Lào có trên 40 tộc người nhưng trong thực tế phân thành 3 bộ tộc lớn theo đặc điểm của địa hình cư trú:

Khi Lào bị giặc Cờ Vàng từ Vân Nam tràn xuống xâm chiếm, người Khơ – mú theo các tù trưởng đấu tranh chống giặc ngoại xâm đã di chuyển và cư trú đến các tỉnh phía Bắc Lào, Thanh Hoá và Nghệ An cách đây khoảng 200 năm. Miền núi Nghệ An nối liền về mặt địa văn hoá với các tỉnh Xiêng Khoảng, Hủa Phăn của Lào. Khi biên giới quốc gia chưa được vạch định rõ ràng thì việc cư dân hai nước đi lại, cư trú là điều dễ dàng. Vì vậy, vào khoảng năm 1884 – 1887 người Khơ – mú theo tù trưởng Thạo Cốt chống Pháp thất bại, đa số người Khơ – mú đã ở lại sinh sống tại các huyện Kỳ Sơn, Tương Dương, Quế Phong. Tại Kỳ Sơn, họ đến cư trú sớm nhất ở các xã Mường Típ, Keng Đu, Bảo Thắng, Bảo Nam.

Sau đó, người Khơ – mú còn di cư từ Lào sang rải rác thêm mấy đợt. Năm 1915, thực dân Pháp bắt dân Lào làm đường 7A, phu đồn điền, một số cư dân Lào trong đó có người Khơ – mú chạy trốn sang vùng hẻo lánh ở Nghệ An. Năm 1912 – 1917, khi nghĩa quân Pa Chay thất bại, thực dân Pháp truy lùng quá gắt gao nên một số người Khơ – mú đã từng tham gia theo nghĩa quân phải chạy trốn sang Nghệ An. Năm 1945 – 1946 một số người Khơ – mú theo nghĩa quân lên vùng rừng núi Nghệ An lập căn cứ chống Pháp sau đó ở lại với họ hàng.

Đời sống kinh tế chủ yếu dựa vào nương rẫy với công cụ điển hình là cây gậy chọc lỗ có một đầu vót nhọn được hơ qua lửa. Do vậy, đời sống của người Khơ – mú nhiều khó khăn, năm được mùa cũng chỉ đủ lương thực cho 6 – 7 tháng. Sản phẩm chăn nuôi không đáng kể, chỉ đáp ứng nhu cầu các nghi lễ tôn giáo. Săn bắn, hái lượm đóng vai trò quan trọng trong đời sống. Đồng bào chỉ biết dệt vải thô để làm khố cho đàn ông, còn phần lớn quần áo của phụ nữ phải đổi của người Thái. Tuy nhiên, người Khơ – mú lại có trình độ đan lát mây tre khá cao, sản phẩm được các dân tộc khác ưa thích.

Đời sống văn hóa của người Khơ – mú thường gắn với các ngày lễ hội, đặc biệt là tết Grơ theo phong tục riêng của dân tộc mình. Trong thời gian đón tết, họ tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ với nhiều điệu múa, nhạc cụ tự tạo như: Kèn môi, ống gõ, đàn, trống, sáo,… Trong đó, hoạt động đặc sắc mang đặc trưng dân tộc là hát Tơm. Ngoài lễ hội trong những ngày tết Grơ, dân tộc Khơ Mú còn tổ chức các ngày lễ: Lễ tra hạt, lễ cùng hồn lúa, lễ mừng cầu mới,…

Bản làng của người Khơ – mú thường chỉ có từ 10 – 20 nóc nhà và do lối sống du cư nên nhà của họ rất đơn giản, chỉ là cột tre, mây nứa, sàn bương,… Xã hội người Khơ – mú trước đây là một xã hội phụ thuộc vào người Thái, một số bản làng cư trú gần người Mông thì lệ thuộc vào người Mông. Trưởng bản là trưởng tộc của dòng họ có số dân đông nhất trong bản. Tài sản có giá trị của người Khơ – mú là đàn bò và số chiêng có được. Sự phân hóa giàu nghèo không lớn. Tính tương trợ cộng đồng rất cao và hình thức đổi công trong sản xuất rất phổ biến. Trong bản, nếu một nhà còn ăn thì cả bản còn ăn. Gia đình người Khơ – mú phần lớn là gia đình phụ quyền, người cha, người chồng là chủ gia đình. Đồng bào rất coi trọng dư luận xã hội, coi đó là một cơ chế điều chỉnh hành vi để duy trì sự ổn định của xã hội.

Trong mỗi dòng họ, người trên kẻ dưới được phân biệt qua tục lệ cổ truyền như cậu hỏi vợ cho cháu, luật quy định chỗ ngồi thực hiện lễ nghi tôn giáo,… Người trong họ không được lấy nhau, nhưng lại có tục hôn nhân con cô con cậu. Tàn dư mẫu hệ vẫn còn nặng, rõ nét nhất như vai trò của người cậu rất lớn trong gia đình của những cặp vợ chồng mới cưới. Khi ở rễ, chàng trai thuộc họ vợ, con cái thuộc họ mẹ, chỉ khi về nhà chồng mới đổi họ theo chồng. Về tín ngưỡng, người Khơ – mú cho rằng mọi hoạt động của con người đều do các Ma chi phối. Ma to nhất là ma trời sai khiến được mưa gió, lụt lội; dưới đất có Ma đất có quyền điều khiển Ma bản, Ma rẫy, Ma rừng; trong nhà có Ma tổ tiên và Ma nhà. Bàn thờ tổ tiên của người Khơ – mú đặt ở bếp trong nhà. Mỗi dòng họ có một cách giải thích nguồn gốc dòng họ mình bằng một câu chuyện mang tính huyền thoại, dòng họ thường mang tên một loài chim, một loại cây nào đó.

Một số hình ảnh dân tộc Khơ mú :

Ban biên tập