Category Archives: Giới thiệu

Giới thiệu

DANH SÁCH CÁC XÃ KHU VỰC I, II, III VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI

Việt Nam là đất nước trên dải đất hình chữ S, nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, ở phía đông bán đảo Đông Dương, phía bắc giáp Trung Quốc, phía tây giáp Lào, Campuchia, phía đông nam trông ra biển Đông và Thái Bình Dương. Bờ biển Việt Nam dài 3 260 km, biên giới đất liền dài 4 510 km. Trên đất liền, từ điểm cực Bắc đến điểm cực Nam (theo đường chim bay) dài 1650km, từ điểm cực Đông sang điểm cực Tây nơi rộng nhất 600km (Bắc bộ), 400 km (Nam bộ), nơi hẹp nhất 50km (Quảng Bình).

Việt nam là nước nhiệt đới gió mùa được phân bổ thành 3 vùng. Miền Bắc và Bắc Trung Bộ là khí hậu cận nhiệt đới ẩm (4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông); Miền Trung và Nam Trung bộ là nhiệt đới gió mùa; Miền Nam có khí hậu nhiệt đới xavan Nóng và ẩm (2 mùa: khô và mưa. Với địa hình ¾ là đồi núi, được chia thành 63 tỉnh và thành phố, 54 dân tộc anh em và có nền văn hóa đa dạng, phong phú nhiều nét đặc biệt trong văn hóa Việt nam.

Với nhiều đặc thù và hình thái địa lý như vậy, Việt nam cũng đươc phân chia thành các xã khu vực để tiện trong việc quản lý hành chính địa lý (theo Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 phê duyệt Danh sách các xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025).

Tiêu chí để phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển giai đoạn 2021-2025 được xác định như sau:

  1. Xã khu vực I (xã bước đầu phát triển) thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là xã thuộc đối tượng áp dụng quy định tại Điều 2 Quyết định số 33/2020/QĐ-TTgvà có 1 trong 2 tiêu chí sau: 1- Có tỉ lệ hộ nghèo dưới 10%; 2- Đã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới.
  2. Xã khu vực II (xã còn khó khăn) thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là các xã còn lại sau khi đã xác định các xã khu vực III và xã khu vực I.
  3. Xã khu vực III (xã đặc biệt khó khăn) thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là xã thuộc đối tượng áp dụng quy định tại Điều 2 Quyết định số 33/2020/QĐ-TTg chưa được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới và có 1 trong 2 tiêu chí sau:
    1. Có tỉ lệ hộ nghèo từ 20% trở lên (riêng các xã thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có tỷ lệ hộ nghèo từ 15% trở lên hoặc có trên 150 hộ nghèo là hộ dân tộc thiểu số).
    2. Có tỉ lệ hộ nghèo từ 15% đến dưới 20% (riêng các xã thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có tỷ lệ hộ nghèo từ 12% đến dưới 15%) và có 1 trong các tiêu chí sau:
      • Có trên 60% tỉ lệ hộ nghèo là hộ dân tộc thiểu số trong tổng số hộ nghèo của xã;
      • Có số người dân tộc thiểu số trong độ tuổi từ 15 đến 60 chưa biết đọc, biết viết tiếng phổ thông từ 20% trở lên;
      • Số lao động có việc làm nhưng chưa qua đào tạo từ 3 tháng trở lên chiếm trên 80% tổng số lao động có việc làm;
      • Đường giao thông từ trung tâm huyện đến trung tâm xã dài trên 20 km, trong đó có trên 50% số km chưa được rải nhựa hoặc đổ bê-tông.

Chi tiết danh sách các xã khu vực I, II, III thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025

Văn hoá dân tộc

Nghệ An có 11/21 huyện, thị xã miền núi, với 252 xã, thị trấn miền núi. Trong đó có 107 xã và 1.188 thôn, bản đặc biệt khó khăn; 27 xã tiếp giáp với nước bạn Lào với chiều dài biên giới là 468 km. Diện tích toàn tỉnh 16.480 km2, trong đó khu vực miền núi là 13.745 km2 (chiếm 83%).

Dân số toàn tỉnh hơn 3,2 triệu người, trong đó miền núi có 1.197.628 người (chiếm 41%). Riêng đồng bào dân tộc thiểu số có 442.787 người, chiếm 15,2% dân số và chiếm 36% dân số trên địa bàn miền núi. Tỉnh có 5 dân tộc thiểu số chính, gồm: Thái 299.490 người, Thổ 62.751 người, Khơ Mú 45.890 người, Mông 30.433 người, Ơ Đu 1.085 người.

Đồng bào các dân tộc ở Nghệ An có truyền thống đoàn kết lâu đời trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, chế ngự thiên nhiên, khắc phục thiên tai và xây dựng quê hương, đất nước. Mỗi dân tộc có sắc thái văn hóa riêng, tạo nên sự đa dạng trong cộng đồng các dân tộc ở Nghệ An.

Trong thời kỳ đổi mới, nhất là từ khi có chương trình 135/CP, Nghị quyết 30a của Chính phủ và các chương trình xóa đói giảm nghèo, chính sách lớn về phát triển kinh tế – xã hội miền núi, tình hình miền núi và các vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Nghệ An có bước chuyển biến quan trọng. Quyền bình đẳng giữa các dân tộc được thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đoàn kết giữa các dân tộc được củng cố. Kinh tế vùng dân tộc từng bước phát triển, cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa. Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội và đời sống nhân dân ở vùng dân tộc được cải thiện rõ rệt. Công tác xóa đói giảm nghèo đạt được kết quả to lớn. Mặt bằng dân trí được nâng lên; công tác phổ cập giáo dục tiểu học, THCS và xóa mù chữ cơ bản được thực hiện tốt. Văn hóa truyền thống các dân tộc ở Nghệ An được tôn trọng, giữ gìn và phát huy. Các loại dịch bệnh cơ bản được ngăn chặn và đẩy lùi; việc khám chữa bệnh cho người nghèo vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc được quan tâm hơn.

Hệ thống chính trị vùng dân tộc và miền núi được tăng cường và củng cố. Tình hình chính trị, trật tự xã hội cơ bản ổn định; an ninh biên giới được giữ vững.

Từ năm 2011 đến nay Ban Thường vụ Tỉnh ủy, UBND tỉnh Nghệ An chủ động phân công các sở, ban, ngành, cơ quan cấp tỉnh và các ngân hàng thương mại trên địa bàn nhận giúp đỡ các xã khó khăn: Năm 2011: 44 cơ quan giúp 44 xã nghèo thuộc các huyện miền núi cao Kỳ Sơn, Tương Dương, Quế Phong và một số huyện khó khăn khác. Năm 2022: 117 cơ quan, đơn vị nhận giúp 117 xã nghèo. Phương thức giúp đỡ: Tùy điều kiện cụ thể từng cơ quan, đơn vị để giúp đỡ, trong đó tập trung: Hướng dẫn, tập huấn kỹ thuật cho nhân dân sản xuất; Hướng dẫn xây dựng, củng cố hệ thống chính trị vững mạnh. Hỗ trợ giống bò sinh sản; Hỗ trợ giống cây; Hỗ trợ một số cơ sở vật chất phục vụ hoạt động của bộ máy Đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể cơ sở như máy vi tính, bàn ghế làm việc. Kết quả đến nay đã hỗ trợ hàng trăm con bò cho hộ nghèo (Công An tỉnh đã hỗ trợ đồng bào dân tộc xã Châu Hoàn – huyện Quỳ Châu 8 đợt với 105 con bê, đến nay sinh sản hơn 220 con). Riêng cán bộ Ban Dân vận Tỉnh ủy Nghệ An trong hai năm qua đã giúp đồng bào nghèo xã Thanh An, huyện Thanh Chương và xã Nam Sơn, huyện Quỳ Hợp 03 con bò, 1 ngôi nhà tình nghĩa và hàng trăm suất quà cho hộ nghèo trong dịp tết nguyên đán. Các đơn vị đã giúp đỡ xây dựng được 50 mô hình trồng lúa nước cho năng suất cao, hàng chục mô hình sản xuất, chăn nuôi có hiệu quả; củng cố hệ thống chính trị 100/117 xã đi vào hoạt động nề nếp, có hiệu quả.

Qua đó, nhận thức của cán bộ và nhân dân các xã miền núi được giúp đỡ được nâng lên, từng bước giảm tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước, biết áp dụng khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, chăn nuôi; công tác chỉ đạo, điều hành của cấp ủy đảng, chính quyền và hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể ở các xã được giúp đỡ có hiệu quả hơn. Cán bộ các sở, ban, ngành cấp tỉnh hiểu dân hơn, hiểu những khó khăn của cơ sở nên trong tham mưu chủ trương, chính sách cho lãnh đạo tỉnh sát với thực tế hơn, hợp lòng dân hơn.

Tình hình kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã có nhiều đổi mới, đời sống nhân dân cơ bản được nâng lên.

Kinh tế tiếp tục phát triển, tăng trưởng bình quân các huyện miền núi hàng năm từ 9-13%, đã xây dựng được nhiều mô hình kinh tế có giá trị kinh tế cao như chanh leo (Tri Lễ, Quế Phong) cho giá trị 500 triệu đồng/ha, cam V2 – Quỳ Hợp cho giá trị 1,2 tỷ/ha (500ha), vịt bầu – Quỳ Châu, lợn đen, khoai sọ, bí xanh – Kỳ Sơn…

Văn hóa xã hội các huyện miền núi có nhiều tiến bộ, gìn giữ và phát huy tốt bản sắc văn hóa dân tộc, các lễ hội như Hang Bua – Quỳ Châu, đền 9 gian ở Quế Phong, mở các lớp học tiếng Thái được tổ chức hàng năm. Công tác giáo dục các huyện miền núi có tiến bộ, số học sinh giỏi, học sinh đậu đại học, cao đẳng tăng lên. Các hủ tục trong ma chay, cưới hỏi, chữa bệnh không đến bệnh viện… cơ bản được xóa bỏ. Tỷ lệ đói nghèo các huyện miền núi giảm bình quân 3 – 4%/năm. Thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, tết vì người nghèo năm 2023 Nghệ An vận động các tổ chức, cá nhân, nhà hảo tâm ủng hộ được trên 100 tỷ đồng.

Trong những năm qua đồng bào các dân tộc ở Nghệ An đã đoàn kết chống lại âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch trên địa bàn, không để phức tạp xảy ra. Hiện nay các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để kích động, chia rẽ giữa các dân tộc anh em, chống phá Đảng, chính quyền, trong đó có “Tây Nghệ An”. Do làm tốt công tác dân vận nên nhân dân các dân tộc ở Nghệ An đã không nghe kẻ xấu, thường xuyên cung cấp thông tin cho công an, bộ đội biên phòng, chính quyền cơ sở để phá tan các âm mưu của các thế lực thù địch để miền Tây Nghệ An luôn ổn định, 468km biên giới Việt – Lào yên, nhân dân 2 bên biên giới Việt – Lào đoàn kết, tin tưởng lẫn nhau (kết nghĩa giữa bản, cụm bản biên giới 2 bên tốt).

Công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã góp phần ngăn chặn, chống truyền đạo trái phép lên miền núi, dân tộc. Trong những năm gần đây chủ trương của giáo hội là phát triển đạo lên miền Tây Nghệ An. Công tác dân vận đã tuyên truyền để nhân dân các dân tộc hiểu là mình đã có bản sắc văn hóa riêng rồi không cần phải có tôn giáo nữa, từ đó hạn chế và đẩy lùi việc truyền đạo lên miền núi.

Tuy nhiên, nhìn chung, kinh tế ở miền núi và vùng dân tộc Nghệ An còn chậm phát triển, nhiều nơi tập quán canh tác còn lạc hậu. Tình trạng du canh, du cư, di dịch cư tự do còn diễn ra. Kết cấu hạ tầng ở một số vùng cao, vùng sâu (Kỳ Sơn, Quế Phong, Tương Dương, Quỳ Châu) còn thấp kém. Đồng bào dân tộc chưa sống được bằng kinh tế rừng và chưa gắn bó với nghề rừng. Tỷ lệ đói nghèo còn cao so với bình quân chung của tỉnh; chất lượng giáo dục một số nơi còn thấp, đào tạo nghề chưa được quan tâm đúng mức. Một số tập tục lạc hậu, mê tín dị đoan chưa được đẩy lùi. Một số bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số đang bị mai một. Hệ thống chính trị một số nơi còn yếu kém, năng lực đoàn kết tập hợp đoàn viên, hội viên còn hạn chế.

Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, sắp tới Nghệ An cần tập trung làm tốt những việc trọng tâm sau:

Thứ nhất, thực hiện tốt Chỉ thị 49- CT/TW và Đề án số 02-ĐA/TU ngày 10/10/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về “Tăng cường công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2016-2020 và những năm tiếp theo”, gắn với thực hiện Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 25 – CTr/TU ngày 20/11/2013 về thực hiện Nghị quyết 25 – NQ/TW trên địa bàn Nghệ An. Thông qua chương trình hành động đã xây dựng 5 Đề án (Đề án số 06 về Dân vận khéo; Đề án 08 đưa công tác dân vận vào giảng dạy tại Trường Chính trị tỉnh, Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện; Đề án 09 về thực hiện công tác dân vận và QCDC cơ sở trong giải phóng mặt bằng, tái định cư; Đề án về công tác tôn giáo; Đề án về xây dựng quy chế phối hợp giữa MTTQ và các đoàn thể với chính quyền các cấp; Đề án hỗ trợ chế độ cho hoạt động tổ dân vận xóm, bản…), qua đó đã góp phần thực hiện tốt công tác đại đoàn kết trên địa bàn.

Thứ hai, tăng cường công tác tuyên truyền để nâng nhận thức cho cán bộ, đảng viên và các tổ chức trong hệ thống chính trị về vai trò, tầm quan trọng của công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc dân tộc thiểu số trong tình hình mới. Chú trọng phổ biến, quán triệt các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về dân tộc và công tác dân tộc đến với đồng bào miền núi.

Thứ ba, tập trung chỉ đạo xây dựng mô hình về phát triển kinh tế – xã hội trong đồng bào dân tộc, tổng kết, hướng dẫn đồng bào thực hiện và nhân rộng, như mô hình chanh leo, cam V2, lợn đen, vịt bầu Quỳ Châu, bò vàng Kỳ Sơn.. .

Thứ tư, phát huy vai trò của người có uy tín, già làng, trưởng bản để làm nòng cốt trong công tác vận động quần chúng, xây dựng khối đại đoàn kết trên địa bàn. Không đẻ kẻ địch lợi dụng chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc.

Thứ năm, tiếp tục vận động, phân công các cơ quan, đơn vị nhận giúp đỡ các các xã, bản khó khăn ở vùng miền núi, dân tộc. Vừa giúp đỡ về vật chất, vừa quan tâm giúp đỡ củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở vùng sâu, vùng xa.

Thứ sáu, thường xuyên thông tin, trao đổi các chủ trương, chính sách, tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cốt cán, người có uy tín nhất là công tác vận động quần chúng, công tác đấu tranh với những hoạt động vi phạm pháp luật. Chăm lo thực hiện các chính sách đối với cán bộ làm công tác dân vận khi gặp khó khăn.

Thực hiện tốt công tác dân vận vùng đồng bào dân tộc thiểu số là góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, tạo đồng thuận cao trong nhân dân để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh trên địa bàn, sớm đưa tỉnh Nghệ An thành tỉnh khá của miền Bắc như sinh thời Bác Hồ hằng mong muốn./.

            Nguyễn Mạnh Khôi 

                        Phó trưởng ban TT Ban Dân vận Tỉnh ủy 

Lời giới thiệu

Liên minh HTX Việt Nam được Chính phủ giao thực hiện nội dung “Hỗ trợ xây dựng và duy trì chợ sản phẩm trực tuyến vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi” thuộc Tiểu dự án 2 – Dự án 10 của Chương trình mục tiêu Quốc gia Phát triển Kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Cổng thông tin được tạo lập nhằm hỗ trợ các đơn vị trong và ngoài hệ thống Liên minh HTX Việt Nam triển khai chương trình này và các nội dung có liên quan.

Giới thiệu Chương trình MTQG phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN
Nhằm thực hiện Nghị quyết số 120/2020/QH14 ngày 19 tháng 6 năm 2020 của Quốc hội về phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030 được đồng bộ, kịp thời, thống nhất và có hiệu quả, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14 tháng 10 năm 2021 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025.
Chương trình chia thành 10 dự án thành phần với các tiểu dự án và mục tiêu cụ thể:

Dự án 1: Giải quyết tình trạng thiếu đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt.
Dự án hướng tới mục tiêu: Hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo; hộ nghèo dân tộc Kinh sinh sống tại xã đặc biệt khó khăn, thôn đặc biệt khó khăn chưa có đất ở, nhà ở hoặc có nhà ở tạm, dột nát được hỗ trợ đất ở, xây dựng nhà ở đảm bảo 3 cứng (nền cứng, khung – tường cứng, mái cứng) phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương. Phấn đấu đạt 90% hộ dân tộc thiểu số nghèo; hộ nghèo dân tộc Kinh sinh sống tại xã đặc biệt khó khăn, thôn đặc biệt khó khăn làm nghề nông, lâm, ngư nghiệp không có hoặc thiếu trên 50% đất sản xuất theo định mức của địa phương được giải quyết tình trạng thiếu đất sản xuất hoặc hỗ trợ chuyển đổi nghề. Góp phần đạt 90% hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo; hộ nghèo dân tộc Kinh sinh sống tại xã đặc biệt khó khăn, thôn đặc biệt khó khăn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn do cơ quan có thẩm quyền ban hành. Tăng cường tạo việc làm, hỗ trợ chuyển đổi nghề phù hợp với nhu cầu, điều kiện của người dân tộc thiểu số và địa bàn sinh sống.

Dự án 2: Quy hoạch, sắp xếp, bố trí, ổn định dân cư ở những nơi cần thiết.
Dự án nhằm ổn định và nâng cao đời sống của người dân, hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại do thiên tai, du canh, du cư, di cư tự do; giải quyết sinh kế, tăng thu nhập, góp phần giảm nghèo, bảo vệ môi trường và củng cố an ninh, quốc phòng.

Dự án 3: Phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp bền vững, phát huy tiềm năng, thế mạnh của các vùng miền để sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị.
Dự án gồm 3 tiểu dự án: Tiểu dự án Phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp bền vững gắn với bảo vệ rừng và nâng cao thu nhập cho người dân nhằm tạo việc làm, thu nhập cho người dân làm nghề rừng; hỗ trợ phát triển kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp, đặc biệt là phát triển kinh tế dưới tán rừng gắn với bảo vệ rừng bền vững tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, góp phần duy trì ổn định tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học, giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu.
Tiểu dự án Hỗ trợ phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, vùng trồng dược liệu quý, thúc đẩy khởi sự kinh doanh, khởi nghiệp và thu hút đầu tư vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Tiểu dự án nhằm hỗ trợ các dự án phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị phù hợp với từng vùng, miền; khai thác tiềm năng lợi thế theo hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi có hiệu quả, tạo việc làm nâng cao thu nhập cho hộ dân, giảm nghèo bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Bước đầu hình thành hệ thống chuỗi giá trị phát triển dược liệu quý; hình thành ý thức nuôi trồng dược liệu theo chuỗi giá trị và bảo tồn nguồn gien dược liệu đảm bảo các quy trình và tiêu chuẩn quản lý chất lượng; kết hợp bảo vệ và phát triển rừng bền vững. Thúc đẩy, hỗ trợ quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng hàng hóa, dịch vụ ở khu vực các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp, khởi sự kinh doanh trong đồng bào dân tộc thiểu số dựa trên tiềm năng, thế mạnh và nguồn tài nguyên sẵn có tại địa phương; tạo việc làm và thu nhập ổn định kết hợp với bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, tri thức truyền thống của cộng đồng các dân tộc thiểu số.
Tiểu dự án Phát triển kinh tế xã hội – mô hình bộ đội gắn với dân bản vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nhằm xây dựng các mô hình gắn kết quân dân, mô hình giảm nghèo bền vững gắn phát triển kinh tế – xã hội với xây dựng thế trận phòng thủ và thế trận bảo đảm hậu cần tại các địa bàn chiến lược.

Dự án 4: Đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu, phục vụ sản xuất, đời sống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi và các đơn vị sự nghiệp công lập của lĩnh vực dân tộc.
Dự án gồm 2 tiểu dự án: Tiểu dự án Đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu, phục vụ sản xuất, đời sống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nhằm tăng cường cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và dân sinh ở các xã đặc biệt khó khăn, các thôn đặc biệt khó khăn; đầu tư đường đến trung tâm xã và cứng hóa đường đến trung tâm xã, liên xã, cụ thể: 100% xã có đường ô tô đến trung tâm xã được rải nhựa hoặc bê tông; 70% thôn có đường ô tô đến trung tâm được cứng hóa; 100% số trường, lớp học và trạm y tế được xây dựng kiên cố; 99% số hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia và các nguồn điện khác phù hợp; 100% đồng bào dân tộc thiểu số được xem truyền hình và nghe đài phát thanh.
Tiểu dự án Đầu tư cơ sở vật chất các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực công tác dân tộc nhằm củng cố, tăng cường cơ sở vật chất, năng lực đào tạo các trường dự bị đại học, trường phổ thông dân tộc nội trú; nâng cao chất lượng đào tạo hệ dự bị đại học cho học sinh dân tộc thiểu số để bảo đảm chất lượng đào tạo đại học người dân tộc thiểu số.

Dự án 5: Phát triển giáo dục đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Dự án 5 gồm 4 tiểu dự án: Thứ nhất: Đổi mới hoạt động, củng cố phát triển các trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường phổ thông có học sinh ở bán trú và xóa mù chữ cho người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tiểu dự án nhằm củng cố và phát triển hợp lý hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường phổ thông có học sinh ở bán trú; đầu tư bổ sung, nâng cấp cơ sở vật chất cho các trường chưa đạt chuẩn quốc gia để đảm bảo tốt việc tổ chức dạy – học (bao gồm cả các hoạt động dạy và học trực tuyến), nuôi dưỡng và chăm sóc học sinh bán trú, nội trú. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên các trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường phổ thông có học sinh ở bán trú. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm về công tác xoá mù chữ, tiếp tục duy trì và nâng cao hiệu quả công tác xoá mù chữ.
Thứ hai: Bồi dưỡng kiến thức dân tộc; đào tạo dự bị đại học, đại học và sau đại học đáp ứng nhu cầu nhân lực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Tiểu dự án nhằm nâng cao, cập nhật kiến thức dân tộc, văn hóa dân tộc thiểu số, chính sách dân tộc cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác dân tộc; bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đào tạo dự bị đại học, đại học và sau đại học nhằm góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Thứ ba, Phát triển giáo dục nghề nghiệp và giải quyết việc làm cho người lao động vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Tiểu dự án nhằm ở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục nghề nghiệp góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; Hỗ trợ lao động là người dân tộc thiểu số tiếp cận thuận lợi với thông tin thị trường lao động, dịch vụ hỗ trợ tìm kiếm, kết nối việc làm; hỗ trợ thanh niên dân tộc thiểu số sau khi tốt nghiệp các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp tìm kiếm được việc làm phù hợp với khả năng, nguyện vọng.
Thứ tư, Đào tạo nâng cao năng lực cho cộng đồng và cán bộ triển khai Chương trình ở các cấp. Tiểu dự án nhằm đào tạo, nâng cao năng lực cho cán bộ thực hiện Chương trình (bao gồm: Quy trình triển khai dự án, tiểu dự án của Chương trình; quy trình, kỹ năng làm chủ đầu tư, nghiệp vụ đấu thầu, quản lý tài chính và thanh quyết toán; quy trình lập kế hoạch; kiểm tra, giám sát và báo cáo kết quả thực hiện), các kỹ năng về phát triển cộng đồng và các nội dung liên quan khác cho cán bộ cơ sở thực hiện Chương trình cấp xã và cấp thôn.

Dự án 6: Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch.
Dự án hướng tới mục tiêu hướng tới mục tiêu: Khôi phục, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống, bồi dưỡng, đào tạo cán bộ văn hóa; hỗ trợ cơ sở vật chất, trang thiết bị văn hóa cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi để nâng cao mức thụ hưởng về văn hóa cho đồng bào các dân tộc gắn với phát triển du lịch cộng đồng, trong đó ưu tiên các dân tộc thiểu số rất ít người.

Dự án 7: Chăm sóc sức khỏe Nhân dân, nâng cao thể trạng, tầm vóc người dân tộc thiểu số; phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em.
Dự án hướng tới mục tiêu: Cải thiện sức khoẻ của người dân tộc thiểu số về thể chất và tinh thần, tầm vóc, tuổi thọ. Tăng cường công tác y tế cơ sở để đồng bào dân tộc thiểu số được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe hiện đại. Tiếp tục khống chế, tiến tới loại bỏ dịch bệnh ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Dự án 8: Thực hiện bình đẳng giới và giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ và trẻ em.
Dự án hướng tới mục tiêu: Nâng cao nhận thức, thay đổi định kiến, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, bảo vệ, chăm sóc phụ nữ và trẻ em, thực hiện mục tiêu bình đẳng giới.

Dự án 9: Đầu tư phát triển nhóm dân tộc thiểu số rất ít người và nhóm dân tộc còn nhiều khó khăn.

Dự án gồm 2 tiểu dự án:
Tiểu dự án 1: Đầu tư phát triển kinh tế – xã hội các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, dân tộc có khó khăn đặc thù nhằm: Xóa đói, giảm nghèo nhanh, bền vững, nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, dân tộc có khó khăn đặc thù, thu hẹp khoảng cách về mức sống, thu nhập so với các dân tộc khác trong vùng; góp phần nâng cao chất lượng y tế, giáo dục, hỗ trợ cải thiện chất lượng dân số, thực hiện bình đẳng giới và giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ và trẻ em; bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc; đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ, cộng đồng và xây dựng cơ sở chính trị ở thôn bản vững mạnh; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Đầu tư phát triển bền vững người Đan Lai (thuộc dân tộc Thổ) gắn với bảo vệ phát triển rừng, môi trường sinh thái tại Vườn Quốc gia Pù Mát, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
Tiểu dự án 2: Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nhằm: huyển đổi nhận thức, hành vi trong hôn nhân của đồng bào dân tộc thiểu số góp phần giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhất là nhóm các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, dân tộc có khó khăn đặc thù; Trên 90% cán bộ làm công tác dân tộc các cấp, cán bộ văn hóa – xã hội xã được tập huấn nâng cao năng lực, kỹ năng vận động, tư vấn, truyền thông thay đổi hành vi về tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vào năm 2025; Giảm bình quân 2% – 3%/năm số cặp tảo hôn và 3% – 5%/năm số cặp kết hôn cận huyết thống đối với các địa bàn, dân tộc thiểu số có tỷ lệ tảo hôn, kết hôn cận huyết thống cao; Đến năm 2025, phấn đấu ngăn chặn, hạn chế tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Dự án 10: Truyền thông, tuyên truyền, vận động trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Kiểm tra, giám sát đánh giá việc tổ chức thực hiện Chương trình.

Dự án gồm 3 tiểu dự án:
Tiểu dự án 1: Biểu dương, tôn vinh điển hình tiên tiến, phát huy vai trò của người có uy tín; phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý và tuyên truyền, vận động đồng bào; truyền thông phục vụ tổ chức triển khai thực hiện Đề án tổng thể và Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030. Tiểu dự án hướng tới mục tiêu: Xây dựng, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác vận động, phát huy vai trò của lực lượng cốt cán và người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Biểu dương, tôn vinh, ghi nhận công lao, sự đóng góp của các điển hình tiên tiến trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao nhận thức cho già làng, trưởng bản, người có uy tín, chức sắc tôn giáo, đồng bào dân tộc thiểu số và Nhân dân. Bảo đảm công bằng trong tiếp cận công lý của người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xây dựng các mô hình điểm giúp đồng bào kịp thời tiếp cận và thụ hưởng hoạt động trợ giúp pháp lý chất lượng để được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi gặp vướng mắc, tranh chấp pháp luật.
Tiểu dự án 2: Ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội và đảm bảo an ninh trật tự vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Tiểu dự án hướng tới mục tiêu: Hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số được tiếp cận thông tin về khoa học công nghệ và quảng bá các sản phẩm của địa phương cho bạn bè trong nước và thế giới. Nâng cao khả năng ứng dụng và sử dụng công nghệ thông tin hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030.
Tiểu dự án 3: Kiểm tra, giám sát, đánh giá, đào tạo, tập huấn tổ chức thực hiện Chương trình. Tiểu dự án hướng tới mục tiêu: Thiết lập hệ thống giám sát, đánh giá đồng bộ, toàn diện đáp ứng yêu cầu quản lý Chương trình. Tổ chức kiểm tra, giám sát, đánh giá việc tổ chức thực hiện Chương trình, đảm bảo Chương trình thực hiện đạt được mục tiêu đề ra./.

Các dân tộc thiểu số tỉnh Nghệ An

Dân số toàn tỉnh hơn 3,2 triệu người, trong đó miền núi có 1.197.628 người (chiếm 41%). Riêng đồng bào dân tộc thiểu số có 442.787 người, chiếm 15,2% dân số và chiếm 36% dân số trên địa bàn miền núi. Tỉnh có 5 dân tộc thiểu số chính, gồm: Thái 299.490 người, Thổ 62.751 người, Khơ Mú 45.890 người, Mông 30.433 người, Ơ Đu 1.085 người.