Category Archives: Chủ trương chính sách

Chương trình MTQG phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS và miền núi …

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại Phiên họp

Đánh giá về Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021 – 2030, Thủ tướng khẳng định: “Thường vụ Quốc hội rất ủng hộ Chương trình này để trở thành một Chương trình MTQG mới cho đồng bào DTTS của chúng ta. Một kỳ tích lịch sử mà từ trước đến nay chúng ta chưa làm được”.

Tại Phiên họp này, Chính phủ đã thảo luận về tình hình KT-XH tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2020; Dự thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành quy định về nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2021 – 2025 theo trình tự thủ tục rút gọn; tình hình phòng, chống dịch Covid-19; định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước năm 2021… Chính phủ cũng đưa ra các quyết sách để làm sao thực hiện tốt mục tiêu kép, chiến thắng trên tất các cả mặt trận.

Tại Phiên họp, Chính phủ đánh giá đến thời điểm này, dịch Covid-19 cơ bản được đẩy lùi. 4 tháng qua, nền kinh tế nước ta gặp nhiều khó khăn. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4/2020 giảm 1,21% so với tháng 12/2019, tăng 2,93% so với cùng kỳ năm 2019 và giảm 1,54% so với tháng trước. Lạm phát cơ bản tháng 4/2020 giảm 0,15% so với tháng trước và tăng 2,17% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 4 tháng đầu năm tăng 2,96% so với bình quân cùng kỳ năm 2019. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong tháng ước đạt 293,9 nghìn tỷ đồng, giảm 26% so với cùng kỳ năm 2019. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục gặp nhiều khó khăn do hạn hán, xâm nhập mặn; tái đàn lợn còn chậm; dịch Covid-19 ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống Nhân dân.

Phát biểu tại Phiên họp, Thủ tướng cho rằng đến thời điểm này, dịch Covid-19 cơ bản được đẩy lùi, tuy nhiên, không được chủ quan. Thủ tướng một lần nữa cảm ơn những tấm lòng nhân ái, sự hỗ trợ nhiệt tình, trách nhiệm của các cấp, các ngành, sự ủng hộ của người dân.

Thủ tướng nhấn mạnh, phải đạt được mục tiêu kép trong phòng, chống dịch và phát triển KT-XH. Trong bối cảnh đã kiểm soát được dịch (tính đến ngày 05/5 là 19 ngày không có ca nhiễm mới trong cộng đồng) thì nhiệm vụ trọng tâm hiện nay là đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, giải quyết việc làm, đời sống, tăng trưởng. Có tăng trưởng mới giải quyết được việc làm, xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội tốt nhất. Thủ tướng nhấn mạnh tinh thần phải sớm phục hồi phát triển các hoạt động KT-XH. Lấy chỉ tiêu kinh tế năm 2020 để phấn đấu. Có quyết tâm cao để thực hiện những mục tiêu tốt nhất.

Bên cạnh đó, Thủ tướng cũng đề nghị việc tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT tốt nhất, an toàn, chất lượng. Có giải pháp khắc phục khó khăn như: Công nghiệp giảm mạnh; các dịch vụ như hàng không, lữ hành, khách sạn khó khăn; tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp phát triển.

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 62/NQ-CP ngày 04/5/2020 về thông qua Báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư Chương trình MTQG phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021 – 2030. Theo đó Chính phủ thống nhất hồ sơ Báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư Chương trình MTQG phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021 – 2030; giao Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký Tờ trình của Chính phủ trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư Chương trình theo quy định của pháp luật; gửi hồ sơ đến Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội trước ngày 05/5/2020.

 

Theo: cema.gov.vn

Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập BCĐTƯ Chương trình MTQG …

Ảnh minh họa (tapchitaichinh.vn)

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình làm Trưởng ban chỉ đạo.

Ông Đỗ Văn Chiến, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban dân tộc làm Phó Trưởng ban thường trực. 2 Phó Trưởng ban khác là lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư và lãnh đạo Bộ Tài chính.

Các thành viên BCĐ là đại diện một số bộ, ngành liên quan.

BCĐ Trung ương có chức năng giúp Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu, chỉ đạo, phối hợp giải quyết những công việc liên quan đến quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện các giải pháp để đạt được mục tiêu của Đề án tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030 (Đề án) và Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030 (Chương trình).

Đồng thời, nghiên cứu, đề xuất với Thủ tướng Chính phủ ban hành cơ chế, chính sách có liên quan để thực hiện hiệu quả Chương trình và các nhiệm vụ, giải pháp khác của Đề án; giúp Thủ tướng Chính phủ điều phối hoạt động giữa các Bộ, ban, ngành, cơ quan trung ương và các địa phương trong quá trình tổ chức, triển khai thực hiện Chương trình và các nhiệm vụ, giải pháp khác của Đề án.

Bên cạnh đó, giúp Thủ tướng Chính phủ đôn đốc các bộ, ngành cơ quan trung ương và các địa phương trong việc xây dựng, hoàn thiện và hướng dẫn cơ chế, chính sách liên quan đến quản lý, điều hành Chương trình và triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp khác của Đề án; kiểm tra, giám sát, đánh giá, sơ kết, tổng kết, khen thưởng trong quá trình thực hiện.

Trưởng BCĐ Trung ương quy định Quy chế hoạt động của BCĐ Trung ương và phân công nhiệm vụ của các thành viên BCĐ.

Văn phòng điều phối Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030 đặt tại Ủy ban Dân tộc, giúp việc Ban Chỉ đạo Trung ương và trực tiếp giúp việc Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc – Phó Trưởng ban thường trực BCĐ Trung ương để quản lý, tổ chức thực hiện Chương trình và các nhiệm vụ, giải pháp khác của Đề án; sử dụng biên chế của Ủy ban Dân tộc và được bố trí kinh phí hoạt động trong kinh phí thường xuyên của Ủy ban Dân tộc.

>> Quyết định số 1014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 14/7/2020 về Thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 20301014-QĐ-TTg – 14-7-2020.signed.pdf

(Theo baochinhphu.vn)

Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện

Nghị định số 107/2020/NĐ-CP và Nghị định số 108/2020/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 14/9/2020 và có hiệu lực thi hành từ ngày 25/11/2020. Cụ thể, Nghị định 107/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2014/NĐ-CP quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Nghị định 108/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 37/2014/NĐ-CP quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Nghị định 107/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nội dung thuộc chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức các sở chuyên môn; tiêu chí thành lập các phòng chuyên môn, văn phòng, chi cục và các tổ chức tương đương thuộc sở; người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu sở, số lượng cấp phó của các đơn vị, tổ chức thuộc sở… Đáng lưu ý, Nghị định 107/2020/NĐ-CP quy định rõ số lượng phó giám đốc sở không cứng nhắc mà linh động theo số bình quân mỗi sở có 3 phó giám đốc. Căn cứ số lượng sở được thành lập và tổng số lượng phó giám đốc, UBND cấp tỉnh quyết định cụ thể số lượng phó giám đốc của từng sở cho phù hợp. Riêng đối với Hà Nội và Tp.HCM, ngoài tổng số lượng phó giám đốc theo quy định tính bình quân chung thì mỗi thành phố được tăng thêm không quá 10 phó giám đốc.

Đối với ngành công tác dân tộc, Nghị định 107/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 9 như sau: Ban Dân tộc tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc. Ban Dân tộc được thành lập khi đáp ứng đủ các tiêu chí sau: Có ít nhất 20.000 người dân tộc thiểu số sống tập trung thành cộng đồng làng, bản; Có ít nhất 5.000 người dân tộc thiểu số đang cần Nhà nước tập trung giúp đỡ, hỗ trợ phát triển; Có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở địa bàn xung yếu về an ninh, quốc phòng; địa bàn xen canh, xen cư; biên giới có đông đồng bào dân tộc thiểu số nước ta và nước láng giềng thường xuyên qua lại. Và khoản 17 Điều 8: Trường hợp không tổ chức riêng Sở Ngoại vụ, Ban Dân tộc thì chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ngoại vụ, dân tộc do Văn phòng Ủy ban nhân dân thực hiện.”

Nghị định 108/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nội dung thuộc chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu, tổ chức, trách nhiệm của Trưởng phòng, số lượng Phó Trưởng phòng các phòng chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp huyện, quận, thị xã, thành phố. Trong đó, Phòng Dân tộc tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc. Phòng Dân tộc được thành lập khi đáp ứng đủ các tiêu chí sau: Có ít nhất 5.000 người dân tộc thiểu số đang cần Nhà nước tập trung giúp đỡ, hỗ trợ phát triển; Có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở địa bàn xung yếu về an ninh, quốc phòng; địa bàn xen canh, xen cư; biên giới có đông đồng bào dân tộc thiểu số nước ta và nước láng giềng thường xuyên qua lại. Trường hợp không tổ chức riêng Phòng Dân tộc thì chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực dân tộc do Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thực hiện.

Chi tiết Nghị định 107/2020/NĐ-CP

Chi tiết Nghị định 108/2020/NĐ-CP

Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Cho ý kiến về Chương trình MTQG phát triển KT-XH …

Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT Đỗ Văn Chiến thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày đề xuất chủ trương đầu tư Chương trình MTQG.

Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày đề xuất chủ trương đầu tư Chương trình MTQG, Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT Đỗ Văn Chiến khẳng định: Việc xây dựng Chương trình MTQG là cần thiết; tổ chức thực hiện hiệu quả Chương trình MTQG sẽ cơ bản giải quyết được những tồn tại, hạn chế, bất cập trong công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc hiện nay; đáp ứng mong đợi của đồng bào DTTS.

“Chương trình sẽ góp phần thúc đẩy KT-XH vùng đồng bào DTTS và miền núi phát triển nhanh, bền vững; tạo sinh kế, tăng thu nhập cho người dân, góp phần giảm nghèo nhanh, bền vững; giải quyết căn cơ hơn một số bức xúc của người DTTS sinh sống ở vùng đồng bào DTTS miền núi. Chương trình sẽ đạt được đa mục tiêu về KT-XH; quốc phòng – an ninh; đối ngoại; bảo vệ môi trường, sinh thái và đa dạng sinh học; xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh; là yếu tố đặc biệt quan trọng để củng cố và nâng cao niềm tin của đồng bào các DTTS đối với Đảng và Nhà nước; tăng cường đồng thuận xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc”, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Đỗ Văn Chiến khẳng định.

Theo Tờ trình của Chính phủ, Chương trình MTQG bao gồm 10 dự án và các tiểu dự án thành phần. Chương trình được thực hiện ở địa bàn vùng DTTS và miền núi là các xã, thôn có tỷ lệ hộ DTTS từ 15% trở lên, phân định thành 3 khu vực theo trình độ phát triển. Đối tượng thực hiện của Chương trình là: Thôn, bản, buôn, làng, ấp…; xã vùng đồng bào DTTS và miền núi. Các thành phần kinh tế trong vùng đồng bào DTTS và miền núi (hộ gia đình, cá nhân người DTTS; hộ gia đình, cá nhân người dân tộc Kinh thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo sinh sống ở các xã, thôn đặc biệt khó khăn (ĐBKK); doanh nghiệp, hợp tác xã, các tổ chức kinh tế, xã hội hoạt động ở địa bàn vùng ĐBKK). Các cơ quan hành chính các cấp tổ chức thực hiện Chương trình.

Trình bày Báo cáo thẩm tra sơ bộ Báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư Chương trình MTQG, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc (HĐDT) của Quốc hội Hà Ngọc Chiến cho biết: Thường trực HĐDT thống nhất về sự cần thiết đầu tư Chương trình MTQG để thể chế hóa Kết luận số 65-KL/TW, ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị “Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới” và thực hiện Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18/11/2019 của Quốc hội “Phê duyệt Đề án Tổng thể phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021 – 2030”. “Thường trực HĐDT đánh giá cao sự nỗ lực cố gắng của UBDT (được Chính phủ giao chủ trì soạn thảo) và các bộ, ngành trong quá trình chuẩn bị, xây dựng Chương trình”, Chủ tịch HĐDT của Quốc hội Hà Ngọc Chiến đánh giá.

Thảo luận tại phiên họp, các đại biểu thống nhất, tán thành với sự cần thiết của Chương trình MTQG đối với sự phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS và miền núi. Đồng thời, các đại biểu đánh giá cao Chính phủ, UBDT với tinh thần trách nhiệm cao trong thực hiện Nghị quyết của Quốc hội đã xây dựng, hoàn thiện Chương trình MTQG. Các đại biểu cho rằng, để thực hiện tốt Chương trình MTQG cần quan tâm, xem xét các vấn đề, như: Tính toán kỹ lưỡng tính khả thi của từng dự án, tiểu dự án; các mục tiêu cần được cụ thể hóa; làm rõ cơ chế thực hiện; dự án nên phối hợp với dự án khác liên quan đến đồng bào DTTS; chú trọng tính đặc thù của từng vùng miền, dân tộc; đa dạng hóa nguồn lực; nâng cao vai trò trách nhiệm của chính quyền địa phương…

Một số đại biểu đề nghị Chính phủ lưu ý những chính sách cụ thể, như: Việc thực hiện Chương trình phải bảo đảm phù hợp văn hóa và môi trường sống của đồng bào DTTS; quan tâm giữ gìn tiếng dân tộc; đào tạo giáo viên người DTTS; quan tâm đến kinh tế lâm nghiệp gắn với rừng; thu hút doanh nghiệp đầu tư từ miền xuôi lên miền núi; quan tâm đến đường giao thông, gắn với sắp xếp lại dân cư…

Kết luận phiên họp, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Tòng Thị Phóng hoan nghênh và đánh giá cao Chính phủ với thời gian ngắn nhưng đã khẩn trương, nghiêm túc chấp hành Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ xây dựng Chương trình MTQG và cho rằng, hồ sơ của Chương trình MTQG đủ điều kiện trình Quốc hội. Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Tòng Thị Phóng đề nghị, Chính phủ báo cáo, giải trình thêm về phạm vi, giải pháp và một số vấn đề cụ thể thực hiện Chương trình MTQG; khẩn trương ban hành bộ tiêu chí phân định vùng DTTS và miền núi để làm căn cứ thực hiện Chương trình.

Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Tòng Thị Phóng khẳng định, việc thực hiện Chương trình MTQG thuộc trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trong đó chính quyền địa phương phải đề cao trách nhiệm trong thực thi chính sách hiệu quả tại cơ sở. UBDT tăng cường kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn triển khai thực hiện Chương trình. HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội, các vị Đại biểu Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể Nhân dân tăng cường vai trò giám sát… để thực hiện hiệu quả Chương trình MTQG, vì sự phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS và miền núi.

Triển khai Đề án: Xác định thành phần, tên gọi của một số dân tộc và xây dựng …

Thực hiện chương trình công tác năm 2022 của Ủy ban Dân tộc, từ ngày 9/5/2022 đến ngày 11/5/2022 đoàn công tác của Ủy ban Dân tộc do đồng chí Thứ trưởng – Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc: Hoàng Thị Hạnh làm trưởng đoàn đã có chuyến khảo sát thực tế tại Nghệ An.

          Trong chuyến công tác, Đoàn đã trực tiếp làm việc với cộng đồng người dân tộc Mông tại xã Trĩ Lễ, huyện Quế Phong về các nội dung liên quan đến Đề án. Tham gia đoàn công tác có đồng chí Vi Văn Sơn – Tỉnh ủy viên, Trưởng Ban Dân tộc tỉnh Nghệ An và các đồng chí lãnh đạo Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Quế Phong.

Toàn cảnh buổi làm việc

          Đồng chí Hoàng Thị Hạnh – Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc cũng thăm hỏi động viên và trao 10 suất quà cho người có uy tín trong đồng bào DTTS tại xã Tri Lễ.

Mạnh Hùng

UBND tỉnh giao các ngành chủ động triển khai Nghị quyết số 517/NQ-UBTVQH15

Ngày 27/5/2022, Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An đã có văn bản đề nghị các ngành: sở Kế hoạch và Đầu tư, sở  Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, sở Lao động Thương binh và Xã hội và Ban Dân tộc chủ động triến khai các nội dung liên quan theo chức năng nhiệm vụ được giao.

Trước đó, ngày 22/5, thay mặt Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH), Chủ tịch QH Vương Đình Huệ đã ký ban hành Nghị quyết số 517/NQ-UBTVQH15 về việc phân bổ ngân sách trung ương (NSTW) giai đoạn 2021-2025 và năm 2022 cho các bộ, cơ quan trung ương và địa phương thực hiện 3 chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG).

Theo đó, UBTVQH quyết nghị phân bổ hơn 92.057 tỷ đồng kế hoạch vốn đầu tư phát triển nguồn NSTW giai đoạn 2021-2025 cho các địa phương thực hiện 3 CTMTQG. Cụ thể, CTMTQG phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là trên 47.057 tỷ đồng; CTMTQG giảm nghèo bền vững là 18.000 tỷ đồng; CTMTQG xây dựng nông thôn mới là 27.000 tỷ đồng.

Đối với hơn 7.942 tỷ đồng vốn đầu tư phát triển nguồn NSTW chưa đủ điều kiện phân bổ, UBTVQH đề nghị Chính phủ khẩn trương rà soát, hoàn thiện cơ sở pháp lý, phương án phân bổ báo cáo UBTVQH xem xét, quyết định.

Đối với vốn NSTW năm 2022, UBTVQH quyết nghị phân bổ hơn 34.000 tỷ đồng NSTW cho các bộ, cơ quan trung ương và địa phương. Trong đó, CTMTQG phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là 14.429 tỷ đồng; CTMTQG giảm nghèo bền vững là 8.620 tỷ đồng; CTMTQG xây dựng nông thôn mới là 11.000 tỷ đồng.

Nghị quyết yêu cầu Thủ tướng Chính phủ giao kế hoạch vốn đầu tư phát triển nguồn NSTW giai đoạn 2021-2025, dự toán NSTW năm 2022 cho từng bộ, cơ quan trung ương và địa phương theo quy định của Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách nhà nước và Nghị quyết của UBTVQH trước ngày 1/6/2022. Và giao Chính phủ chỉ đạo các bộ, cơ quan trung ương và địa phương phân bổ, giao kế hoạch vốn NSTW giai đoạn 2021-2025, dự toán NSTW năm 2022 và phân bổ vốn đối ứng từ ngân sách địa phương theo đúng quy định của Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách nhà nước, các Nghị quyết của QH, Nghị quyết của UBTVQH và quy định pháp luật có liên quan trước ngày 1/7/2022; khẩn trương triển khai các giải pháp đẩy mạnh tiến triển khai thực hiện 3 CTMTQG theo đúng Nghị quyết của QH, đảm bảo quản lý, sử dụng nguồn vốn đúng pháp luật, đúng mục đích, đạt hiệu quả cao.

Nguyễn Hà Giang

Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ban hành Chỉ thị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng …

Đảng và Nhà nước ta luôn xác định công tác dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc luôn có vị trí chiến lược quan trọng trong các giai đoạn cách mạng của đất nước. Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách chăm lo xây dựng hệ thống chính trị, phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Anh-tin-bai

Các cấp ủy đảng, chính quyền đã đề ra nhiều giải pháp cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, thực hiện có hiệu quả công tác dân tộc và chính sách dân tộc. Diện mạo nông thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của tỉnh đã có nhiều chuyển biến tích cực. Kết cấu hạ tầng được tăng cường, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội đảm bảo. Nhiều nét đẹp văn hoá truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số được lưu giữ, bảo tồn, phát huy; tập quán lạc hậu dần dần được xoá bỏ; khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được củng cố, đồng bào các dân tộc luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước. Bên cạnh những kết quả đạt được, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của tỉnh vẫn còn nhiều khó khăn: Kết cấu hạ tầng tuy đã được quan tâm đầu tư nhưng chưa thật sự đồng bộ; sản xuất còn manh mún, nhỏ lẻ; tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo còn cao so với mặt bằng chung của tỉnhkết quả giảm nghèo chưa thật sự bền vững; chất lượng nguồn nhân lực chưa đồng đều; giáo dục, y tế còn có mặt hạn chế; bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của một số dân tộc từng bước bị mai một; tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội có nơi, có lúc còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp, các thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá Đảng và Nhà nước. Công tác quản lý nhà nước về dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc ở một số địa phương, cơ quan, đơn vị có thời điểm chưa được quan tâm đúng mức.

Để tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác dân tộc và chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2022 – 2026, định hướng đến năm 2030, ngày 01/8/2022, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Chỉ thị số 17-CT/TU về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2022 – 2026, định hướng đến năm 2030.

        Xem nội dung chi tiết Chỉ thị số 12-CT/TU Tải về

Chính phủ ban hành Nghị định số 24/2023/NĐ-CP ngày 14/5/2023 …

Nghị định số 24/2023/NĐ-CP ngày 14/5/2023 của Chính phủ quy định:

1) Đối tượng áp dụng, bao gồm:

1. Cán bộ, công chức từ Trung ương đến cấp huyện quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019).

2. Cán bộ, công chức cấp xã quy định tại Khoản 3 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019).

3. Viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định tại Luật Viên chức năm 2010 (sửa đổi, bổ sung tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019).

4. Người làm các công việc theo chế độ hợp đồng lao động quy định tại Nghị định số 111/2022/NĐ-CP ngày 30/12/2022 của Chính phủ về hợp đồng đối với một số loại công việc trong cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập thuộc trường hợp được áp dụng hoặc có thỏa thuận trong hợp đồng lao động áp dụng xếp lương theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang.

5. Người làm việc trong chỉ tiêu biên chế tại các hội được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động theo quy định tại Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội (sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 33/2012/NĐ-CP ngày 13/4/2012 của Chính phủ).

6. Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ, công nhân, viên chức quốc phòng và lao động hợp đồng thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam.

7. Sĩ quan, hạ sĩ quan hưởng lương, hạ sĩ quan, chiến sĩ nghĩa vụ, công nhân công an và lao động hợp đồng thuộc Công an nhân dân.

8. Người làm việc trong tổ chức cơ yếu.

9. Người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn và tổ dân phố.

2) Từ ngày 01/7/2023, mức lương cơ sở là 1.800.000 đồng; dùng làm căn cứ:

1. Tính mức lương trong các bảng lương, mức phụ cấp và thực hiện các chế độ khác theo quy định của pháp luật đối với 09 đối tượng nêu trên.

2. Tính mức hoạt động phí, sinh hoạt phí theo quy định của pháp luật.

3. Tính các khoản trích và các chế độ được hưởng theo mức lương cơ sở.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2023 và Nghị định số 38/2019/NĐ-CP ngày 09/5/2019 của Chính phủ hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.

Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành Thông tư số 03/2023/TT-BTTTT

Ngày 30/5/2023, Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Phạm Đức Long ký ban hành Thông tư số 03/2023/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông: Hướng dẫn thực hiện một số nội dung về thông tin và truyền thông trong Tiểu dự án 1 và Tiểu dự án 2 thuộc Dự án 10 của Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025. Cụ thể:

– Nhiệm vụ thông tin đối ngoại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thuộc Tiểu dự án 10.1 của Chương trình;

– Nhiệm vụ hỗ trợ thiết lập các điểm hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số ứng dụng công nghệ thông tin tại Ủy ban nhân dân cấp xã để phục vụ phát triển kinh tế – xã hội và đảm bảo an ninh trật tự thuộc Tiểu dự án 10.2 của Chương trình (viết tắt là điểm hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số ứng dụng CNTT).  Theo đó, địa bàn thiết lập điểm hỗ trợ đồng bào DTTS ứng dụng CNTT là các xã thuộc tiêu chí phân bổ vốn thực hiện Tiểu dự án 10.2 (quy định tại Phụ lục X của Quyết định số 39/2021/QĐ-TTg ngày 30/12/2021 của Thủ tướng Chính phủ) bao gồm: Xã đặc biệt khó khăn (xã khu vực III) và xã không thuộc khu vực III có thôn đặc biệt khó khăn. Mỗi xã thiết lập một điểm hỗ trợ, được hỗ trợ sử dụng dịch vụ truy nhập internet băng rộng theo Chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích đến năm 2025. Các điểm hỗ trợ này thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ đồng bào DTTS ứng dụng CNTT; hỗ trợ cho bà con tiếp cận thông tin về đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước qua mạng internet. Hỗ trợ bà con sử dụng dịch vụ công trực tuyến; học tập, nâng cao trình độ, kiến thức, kỹ năng sản xuất, phát triển kinh tế, thương mại, khoa học kỹ thuật, văn hóa – xã hội, kiến thức về đảm bảo an ninh, trật tự.

Thông tư có hiệu lực kể từ ngày ký, là cơ sở để thực hiện Tiểu dự án 1 và Tiểu dự án 2 thuộc Dự án 10 của Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030, giai đoạn I: Từ năm 2021 đến năm 2025./.

Xem chi tiết

Bộ Y tế ban hành Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 10/2022/TT-BYT …

Ngày 06/6/2023, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 12/2023/TT-BYT về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 10/2022/TT-BYT ngày 22/9/2022 của Bộ trưởng Bộ Y tế Hướng dẫn triển khai nội dung Đầu tư, hỗ trợ phát triển vùng trồng dược liệu quý thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025.

Theo đó, Thông tư gồm 3 Điều, nội dung trọng tâm sửa đổi, bổ sung 02 Điều (Điều 7, Điều 8) và 07 khoản thuộc 04 Điều (Điều 2, Điều 6, Điều 12, Điều 14). Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.

Thông tư được ban hành là cơ sở để các đơn vị triển khai thực hiện Nội dung số 01 – Hỗ trợ vùng trồng dược liệu quý, đang còn vướng mắc về hướng dẫn thuộc Tiểu dự án 2, Dự án 3, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025 trên địa bàn tỉnh Nghệ An./.

Xem chi tiết