Author Archives: Liên minh HTX Nghệ An

Chính phủ ban hành Nghị định số 38/2023/NĐ-CP ngày 24/6/2023 …

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Chính phủ ban hành Nghị định số 38/2023/NĐ-CP ngày 24 tháng 6 năm 2023 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 27/2022/NĐ-CP ngày 19 tháng 4 năm 2022 của Chính phủ quy định cơ chế quản lý, tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia.

Theo đó, Nghị định gồm 3 Điều, nội dung trọng tâm sửa đổi, bổ sung 16 Điều (Điều 5, Điều 6, Điều 7, Điều 9, Điều 11, Điều 13, Điều 18, Điều 19, Điều 20, Điều 21, Điều 22, Điều 23, Điều 34, Điều 36, Điều 38, Điều 40) và 06 khoản thuộc 06 Điều (khoản 11 Điều 3, khoản 1 Điều 10, khoản 3 Điều 26, khoản 2 Điều 35, khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 39).

Phụ lục kèm theo Nghị định có 06 mẫu: Biên bản nghiệm thu khối lượng hoàn thành trong thực hiện chính sách hỗ trợ; Giấy đề nghị; Bảng kê danh sách và mức hỗ trợ của đối tượng chính sách; Đơn đề nghị về việc hỗ trợ thực hiện dự án, kế hoạch phát triển sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị; Tên dự án, kế hoạch liên kết; Bản thảo thuận về việc cử đơn vị làm chủ trì liên kết.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.

Nghị định được ban hành là căn cứ để các bộ, ngành, địa phương sửa đổi, bổ sung các văn bản hướng dẫn thực hiện đồng thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia./.

Chi tiết Nghị định.

Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 18/2023/QĐ-TTg ngày 01/7/2023 …

Theo đề nghị của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 18/2023/QĐ-TTg ngày 01 tháng 7 năm 2023 Sửa đổi, bổ sung và bãi bỏ một số điều của Quyết định số 39/2021/QĐ-TTg ngày 30 tháng 12 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025.

Theo đó, Quyết định gồm 3 Điều, nội dung trọng tâm:

– Bãi bỏ quy định: “phân bổ cho Ủy ban Dân tộc: không quá 17% tổng số vốn của tiểu dự án” quy định tại điểm a, khoản 2.1, Tiểu dự án 2, Phụ lục III.

– Sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 1 Điều 6; điểm 1.1 Tiểu dự án 2, Phụ lục IV; điểm b khoản 2.2 Tiểu dự án 2, Phụ lục V.

– Sửa đổi tổng điểm của tiêu chí số 2, điểm b khoản 4.2 Tiểu dự án 4, Phụ lục V; điểm a khoản 2 Tiểu dự án 2, Phụ lục X.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.

Quyết định được ban hành là căn cứ để các bộ, ngành, địa phương sửa đổi, bổ sung các văn bản hướng dẫn thực hiện phù hợp với tình hình thực tế trong triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi./.

Chi tiết Quyết định số 18/2023/QĐ-TTg

UBND tỉnh Nghệ An ban hành Quy chế nâng bậc lương trước thời hạn đối với cán bộ, công chức, …

Ngày 09/6/2023 UBND tỉnh có Quyết định số 12/2023/QĐ-UBND Ban hành Quy chế nâng bậc lương trước thời hạn đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

Quy chế gồm 03 Chương, 6 Điều và 19 Khoản, có hiệu lực kể từ ngày 20/6/2023; quy định về việc nâng bậc lương trước thời hạn đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động xếp lương theo bảng lương quy định tại Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và các hội có tính chất đặc thù được giao số người làm việc thuộc thẩm quyền quản lý của UBND tỉnh Nghệ An; Cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc nâng bậc lương trước thời hạn.

Có 7 nguyên tắc nâng bậc lương trước thời hạn:

1. Việc xem xét, quyết định nâng bậc lương trước thời hạn phải bảo đảm tính công khai, công bằng, dân chủ, khách quan.

2. Việc nâng bậc lương trước thời hạn được xét từ thành tích cao nhất đến thành tích thấp hơn, trường hợp có nhiều thành tích như nhau thì thực hiện quy chế nâng bậc lương trước thời hạn của cơ quan, đơn vị trên cơ sở thứ tự ưu tiên như sau:

a) Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động có thành tích xuất sắc đã xét trong đợt nâng lương trước thời hạn kỳ trước nhưng chưa được nâng do không còn chỉ tiêu;

b) Cán bộ, công chức, viên chức và người lao động nếu không nâng bậc lương trước thời hạn kỳ này thì không còn đủ điều kiện để nâng bậc lương trước thời hạn;

c) Cán bộ, công chức, viên chức và người lao động có thời gian công tác lâu năm, chưa được nâng bậc lương trước thời hạn lần nào hoặc mức lương còn thấp;

d) Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động là người dân tộc thiểu số, đang làm việc tại vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, miền núi, vùng sâu, vùng xa;

đ) Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động là nữ;

Trường hợp thành tích và thứ tự ưu tiên vẫn như nhau thì do Hội đồng xét nâng bậc lương trước thời hạn xem xét, quyết định.

3. Thời điểm nâng bậc lương trước thời hạn phải thực hiện trước thời điểm nâng bậc lương thường xuyên (tối đa 12 tháng).

4. Thành tích đạt được của các năm làm cơ sở để xét nâng bậc lương trước thời hạn trong chu kỳ lương không yêu cầu phải liên tục.

5. Trường hợp ngày ký quyết định nâng bậc lương trước thời hạn sau thời điểm được tính hưởng bậc lương mới thì cán bộ, công chức, viên chức, người lao động được truy lĩnh tiền lương; thực hiện truy nộp bảo hiểm xã hội phần chênh lệch tiền lương tăng thêm giữa bậc lương mới so với bậc lương cũ.

6. Không thực hiện hai lần liên tiếp nâng bậc lương trước thời hạn do lập thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ.

7. Trường hợp cán bộ, công chức, viên chức và người lao động vừa thuộc đối tượng được xét nâng bậc lương trước thời hạn do lập thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ, vừa thuộc đối tượng được xét nâng bậc lương trước thời hạn khi có thông báo nghỉ hưu thì cán bộ, công chức, viên chức và người lao động được chọn một trong hai chế độ nâng bậc lương trước thời hạn này.

Thành tích để xét nâng bậc lương trước thời hạn áp dụng theo chu kỳ lương, được xác định theo thời điểm ban hành quyết định công nhận thành tích đạt được trong khoảng thời gian 6 năm gần nhất đối với các ngạch, các chức danh có yêu cầu trình độ đào tạo từ cao đẳng trở lên và 4 năm gần nhất đối với các ngạch, các chức danh có yêu cầu trình độ đào tạo từ trung cấp trở xuống tính đến ngày 31/12 của năm xét nâng bậc lương trước thời hạn. Đối với các trường hợp đã được nâng bậc lương trước thời hạn thì tất cả các thành tích đạt được trước ngày có quyết định nâng bậc lương trước thời hạn trong khoảng thời gian (6 năm và 4 năm) này không được tính để xét nâng bậc lương trước thời hạn cho lần sau.

Tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong một cơ quan, đơn vị được nâng bậc lương trước thời hạn do lập thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ trong một năm không vượt quá 10% tổng số cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong danh sách trả lương của cơ quan, đơn vị

Có 02 mức thời gian được nâng lương trước thời hạn là 12 tháng và 6 tháng./.

(Quyết định số 12/2023/QĐ-UBND đính kèm)

Dân tộc Mông

Tộc người Mông thuộc nhóm ngôn ngữ Mông – Dao.Người Mông còn có các tên gọi khác là H”Mông, Mèo/Mẹo, Mèo Hoa (Mông Lềnh), Mán Trắng (Mông Đơ), Ná Miêu, Mạo. Ở Việt Nam, người Mông sinh sống tại miền núi các tỉnh: Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Hà Giang, Tuyên Quang, Thanh Hóa, Nghệ An.

Người Mông vào đến Nghệ An chậm hơn, cách đây khoảng 130 – 140 năm. Trên đường chuyển cư vào Nghệ An, có bộ phận qua Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa vào Nghệ An; có bộ phận qua Lào cư trú một thời gian mới qua Nghệ An.

Vào Nghệ An, người Mông cư trú tại 3 huyện rẻo cao dọc biên giới Việt – Lào là: Kỳ Sơn, Tương Dương và Quế Phong. Kỳ Sơn có 5 xã thuần Mông là Mường Lống, Huổi Tụ, Nậm Cắn, Tây Sơn, Đoọc Mạy và 3 xã gần thuần Mông là Bắc Lý, Na Ngoi, Mường Típ. Tương Dương có 6 xã có người Mông là Nhôn Mai, Tam Hợp, Mai Sơn, Lưu Kiền, Xá Lượng và Hữu Khuông. Quế Phong chỉ có ở xã Tri Lễ và Nậm Giải.

Người Mông chủ yếu sống du canh, du cư gắn với sản xuất nương rẫy, trình độ canh tác trên đất dốc cao hơn nhiều dân tộc khác, thể hiện rõ nhất trên nương định canh. Trên loại nương này, họ trồng hoa màu, cây thuốc chữa bệnh, cây lấy sợi dệt vải. Còn nương du canh thường trồng lúa, ngô và cây thuốc phiện. Trước đây, nương du canh thường được trồng trọt 5 – 6 vụ trước khi để bỏ hoang, nay chỉ 2 – 3 vụ. Người Mông ở Nghệ An khác với Mông ở Tây Bắc Việt Nam trong canh tác là không dùng cày, công cụ lao động chủ yếu là cuốc bướm tự chế tạo với nhiều kiểu dáng khác nhau phù hợp cho sử dụng vùng đất dốc. Nghề chăn nuôi khá phát triển, nhất là nuôi lợn và ngựa. Việc thu lượm lâm sản phụ được coi là một nguồn thu nhập đáng kể với những sản phẩm quý như đẳng sâm, cánh kiến đỏ, hà thủ ô, măng, nấm…. Săn bắn trở thành nghề phụ phổ biến đối với hầu hết nam giới ở tuổi trưởng thành.

Nghề thủ công của người Mông khá phát triển và đa dạng: Nghề rèn, khoan súng kíp, làm giấy bản, làm đồ trang sức bằng bạc,… trong đó nghề rèn là nổi tiếng nhất. Hai sản phẩm từ nghề rèn của đồng bào Mông rất được ưa chuộng là dao và lưỡi cày.

Nét văn hóa tiêu biểu của người Mông diễn ra trong các ngày tết như Tết Năm mới, Tết Đoan ngọ (mồng 5 tháng 5 âm lịch), lễ mừng cơm mới,… Trong các ngày lễ, đồng bào dân tộc Mông tổ chức các hoạt động văn hóa với các trò chơi dân gian như: Ném còn, bắn tên, đẩy gậy, kéo co, chơi khèn (vừa thổi vừa múa). Các loại kèn lá, kèn môi thường xuyên được sử dụng trong các đợt sinh hoạt tập thể. Văn hóa người Mông còn được thể hiện qua trang phục của người phụ nữ rất cầu kỳ với nhiều màu sắc và nhiều loại trang sức đẹp.

Đơn vị cư trú cơ bản của người Mông trước đây là “giào”, tương tự như bản của người Thái hay thôn, xóm của người Kinh, nhưng hộ gia đình ít hơn. Mỗi giào thường có từ 15 – 20 hộ thuộc một vào dòng họ. Giào có luật tục riêng và tương trợ giúp đỡ lẫn nhau. Đứng đầu giào là ông “Lùng thầu” do dân cử và có uy tín với dân chúng. Cũng có khi vai ba giào liên kết với nhau thành “liên giào” do “Nại bản” đứng đầu. Khoảng 10 – 15 giào hợp thành một “phống” do “Tà Xẻng” đứng đầu, sau này Tà xẻng còn gọi là Lý trưởng. Người chức sắc trong dân tộc Mông thuộc dòng họ rất lớn, rất có uy quyền và nhiều người kiêm luôn cả nghề thầy cúng. Tuy vậy, họ vẫn là người lao động trực tiếp và có quan hệ thân thiện với dân chúng.

Quan hệ dòng họ trong người Mông rất được coi trọng. Dù họ ở rất xa nhau và chưa quen biết nhau, nhưng những người cùng dòng họ đều có chung quy ước trong tập tục giao tiếp, thờ cúng, ma chay,… Mỗi họ mang tên một con vật với những kiêng kỵ mang ý nghĩa tô tem giống như người Thái, người Khơ Mú: họ Vừ, họ Và kiêng không ăn tim lợn; họ Lỳ kiêng ăn lá lách con vật 4 chân,… Gia đình người Mông là gia đình phụ quyền bền vững. Vợ chồng hiếm khi xảy ra ngoại tình hoặc ly hôn. Tập quán xử lý rất nghiêm đối với những gia đình bất hòa. Nếu chồng chết, chị dâu phải lấy em trai chồng. Người con trai trong gia đình được dạy làm quen với lao động và lễ nghi từ nhỏ như 10 tuổi đã thạo việc bắn nỏ và làm nương, 15 tuổi đã biết các bài cúng tổ tiên và khá thành thạo các nghề thủ công truyền thống. Từ đó, các chàng trai được đổi tên theo nghi lễ “thành đinh” và đã có thể “cướp vợ” theo tập quán của dân tộc mình. Tàn dư mẫu hệ cũng còn rất rõ nét trong tộc người Mông. Ông cậu có vai trò quan trọng trong việc gả chồng cho cháu gái như người cha thứ hai trong gia đình. Theo quan niệm của người Mông, có rất nhiệu loại ma như ma trâu, ma lợn, ma nhà, ma cửa,… và đồng bào cho rằng mọi vật đều có linh hồn.

Một số hình ảnh dân tộc Mông:

Ban Biên tập

Dân tộc Ơ Đu

Tộc người Ơ Đu thuộc nhóm Môn – Khơme. Tộc người này còn có tên là Tày Hạt. Đồng bào tự gọi tên dân tộc mình là Phrom Ơ Đu (người Ơ Đu). Mặc dù dân số hiện nay chỉ có trên dưới 1.000 người, nhưng tộc người Ơ Đu vẫn là một trong 54 thành phần dân tộc và 1 trong 5 dân tộc có dân số ít nhất Việt Nam.

Về nguồn gốc, theo tài liệu nghiên cứu của các nhà khoa học và truyền thuyết của người Ơ Đu: xưa kia người Ơ Đu khá đông đúc, cư trú suốt một vùng dọc sông Nậm Nơn và Nậm Mộ rộng lớn. Họ ở cả Việt Nam và Lào. Ở Việt Nam có 3 trung tâm chính là Mường Lằm (tức vùng xã Hữu Khuông và Hữu Dương), Xiềng Mèn (vùng xã Yên Na, Yên Tĩnh, Yên Hòa) huyện Tương Dương và Xốp Tăm (xã Tà Cạ, huyện Kỳ Sơn). Nghệ An là tỉnh duy nhất ở Việt Nam có người Ơ Đu sinh sống.

Người Ơ Ðu sinh sống chủ yếu bằng nương rẫy và một phần ruộng nước. Mỗi năm họ chỉ làm một vụ: phát, đốt, gieo hạt từ các tháng 4 – 5 âm lịch, thu hoạch vào các tháng 9 – 10. Công cụ làm rẫy gồm rìu, dao, gậy chọc lỗ. Ngoài lúa là giống cây trồng chính, còn trồng sắn, bầu, bí, ngô, ý dĩ, đỗ, hái lượm và săn bắn vẫn có vị trí quan trọng trong đời sống. Chăn nuôi trâu bò, lợn gà, dê khá phát triển. Trâu, bò dùng làm sức kéo, lợn gà sử dụng trong các dịp cưới, nghi lễ tín ngưỡng, cúng ma… Ðan lát đồ gia dụng bằng giang, mây, một phần tiêu dùng, phần để trao đổi. Ngược dòng thời gian khi mới ngụ cư họ còn biết dệt vải để mặc và trao đổi.

Trước đây, ngôi nhà truyền thống của người Ơ Đu là nhà sàn, phải dựng quay đầu vào núi (dựng chiều dọc). Khi dựng cột phải tuân theo một thứ tự nhất định. Nay kiểu nhà này không còn nữa. Họ ở sàn nhà giống như nhà sàn người Thái.Trang phục không có đặc tính tộc Ơ Đu mà chịu ảnh hưởng khá mạnh mẽ của cư dân Việt – Mường và Thái.

Về quan hệ xã hội, do số lượng dân số ít, sống xen kẽ với người Khơ Mú và Thái cho nên các mặt quan hệ xã hội văn hóa của họ chịu nhiều ảnh hưởng hai dân tộc này. Người Ơ Ðu lấy họ theo họ Thái, Lào. Tổ chức dòng họ rất mờ nhạt. Trưởng họ là người có uy tín, được kính trọng và có vai trò lớn trong dòng họ. Gia đình người Ơ Ðu là gia đình nhỏ phụ quyền. Ðàn ông quyết định tất thẩy các công việc trong nhà. Phụ nữ không được hưởng thừa tự. Họ phổ biến tục ở rể. Lễ vật trong dịp cưới không thể thiếu là thịt sóc, thịt chuột sấy khô và cá ướp muối.Phụ nữ đẻ ngồi tại góc nhà phía gian dành cho phụ nữ. Nhau trẻ bỏ vào ống tre đem chôn ngay dưới gầm sàn. Tuổi đứa con được tính từ ngày có tiếng sấm trong năm. Khi đó đứa bé được coi là đầy năm và được bố mẹ làm lễ đặt tên.

Người Ơ Ðu tin rằng khi người chết, hồn biến thành ma. Hồn thân thể ngụ tại bãi tha ma, hồn gốc ở chỏm tóc ở lại làm ma nhà. Ma nhà chỉ ở với con cháu một đời theo thứ tự từ con trai cả đến con trai thứ. Khi các con trai đã chết hết, người ta làm lễ tiễn ma nhà về với tổ tiên. Nơi thờ ma nhà tại góc hồi của gian thứ hai.

Người Ơ Ðu ăn tết Nguyên đán, tết cơm mới. Ngày hội lớn nhất là lễ đón tiếng sấm trong năm. Ngày đó, cư dân khắp nơi đổ về mở hội tế trời, mổ trâu, bò, lợn ăn mừng tại bản. Họ biết sử dụng thành thạo các loại nhạc cụ của người Khơ Mú, Thái như: sáo, khèn, chiêng, trống; thuộc các làn điệu dân ca Khơ Mú, Thái, kể chuyện dã sử.

Một số hình ảnh dân tộc Ơ đu:

Ban biên tập

Dân tộc Thổ

Tộc người Thổ ở Nghệ An hiện nay bao gồm các nhóm Cuối, Kẹo, Mọn, Họ, Đan Lai, Ly Hà và Tày Poọng.

Quá trình tụ cư của người Thổ ở Nghệ An khá phức tạp và còn nhiều tranh cãi. Phần lớn các học giả cho rằng quá trình tụ cư của người Thổ ở Nghệ An là quá trình cộng cư của 3 bộ phận: Bộ phận người Kinh ở miền xuôi chạy lên; Bộ phận người Kinh cư trú tại chỗ từ thời xa xưa (khu vực Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp) và bộ phận người Mường, người Kinh từ Thanh Hóa chạy sang. Địa bàn sinh sống hiện nay của người Thổ Nghệ An gồm hai khối cư trú tương đối tập trung nhưng lại ở cách xa nhau, gần như biệt lập với nhau. Khối cư dân ít hơn ở phía Nam bao gồm các nhóm Đan Lai – Ly Hà và Tày Poọng. Khối cư dân đông hơn ở phía Đông Bắc bao gồm các nhóm Kẹo, Mọn, Họ và Cuối.

Nhóm Kẹo, Họ phân bố ở Tân Kỳ, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp. Phần lớn người già ở đây vẫn đang nhớ về một vùng quê đồng bằng. Theo họ, tổ tiên của họ di cư đến vùng này khoảng 6 – 8 đời. Người Thổ thuộc nhóm Họ, Kẹo vẫn lưu truyền về biến động lịch sử một thời buộc tổ tiên họ phải di cư lên miền núi sinh sống để trốn tránh tô thuế nặng nề của chế độ phong kiến ở miền xuôi, hoặc để lẫn tránh các bệnh dịch. Một số bản gia phả dòng họ người Thổ ở Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn ghi rõ nơi ra đi của họ là từ Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Yên Thành.

Người Thổ sinh sống chủ yếu dựa vào kinh tế nương rẫy. Trình độ canh tác rẫy trên đất dốc khá cao thể hiện ở khâu làm đất bằng chiếc “cày nại” điển hình và cây gậy chọc lỗ bỏ hạt, làm cỏ,… Cùng với trồng lúa, đồng bào còn trồng xen ngô, đỗ, lạc, mía,… nhưng không nhiều. Người Thổ có nghề trồng gai và chế biến các sản phẩm từ cây gai khá phát triển và đậm nét bản sắc dân tộc. Sản phẩm từ gài như võng, lưới săn thú, lưới đánh cá,… rất được ưa chuộng. Hầu hết đàn ông đều biết đan lát và các sản phẩm như ghế mây, bồ đựng quần áo, hộp kim chỉ được đem đổi hoặc bán ra. Người Thổ ở một số nơi còn có nghề đánh bắt cá cổ truyền với nhiều công cụ đặc hữu. Nghề săn thú, nhất là săn tập thể, đã trở thành tập quán cổ truyền vừa có ý nghĩa kinh tế, vừa là một dạng hoạt động văn hóa mang tính chất truyền thống của cộng đồng. Các hình thức thu nhặt lâm thổ sản cũng đóng vai trò quan trọng trong đời sống của đồng bào Thổ, nhất là với nhóm Đan Lai, Ly Hà, Tày Poọng.

Nền văn hóa vật chất của người Thổ không có gì đặc sắc lắm. Nhà ở làm bằng gỗ rừng và tranh tre nứa lá giản đơn, cột ngoẵm, chỉ cần con dao và cái rìu là dựng được nhà. Nhà sàn của người Tày Poọng chịu ảnh hưởng của nhà sàn người Thái. Những biểu hiện văn hóa vật chất khác như trang phục, công cụ sản xuất mang tính pha tạp là dấu ấn của một dân tộc có nhiều nguồn dân cư khác nhau và chịu ảnh hưởng của các dân tộc khác cùng chung sống.

Sinh hoạt văn hóa của đồng bào dân tộc Thổ thường gắn với các lễ hội xuống đồng đầu năm; lễ đền Cồn làng,… Trong các dịp lễ hội, đồng bào dân tộc Thổ tổ chức nhiều hoạt động văn hóa với các làn điệu dân ca, dân vũ độc đáo mang đậm dấu ấn đặc trưng văn hóa của dân tộc mình như: Đu đu điềng điềng, Ên ên – Ạc ạc, Hát Thuôm, hát ghẹo, hát cuối, hát dặm, múa sạp,… Cùng với những nhạc cụ truyền thống như sáo, khèn, chiêng, trống, người Thổ còn có những nhạc cụ riêng như đàn Thổ, đàn tính tang. Sự hòa quyện âm thanh của các nhạc cụ truyền thống với những âm thanh của các nhạc cụ dân tộc Thái tạo nên những âm hưởng mang đậm sắc thái của dân tộc Thổ.

Ý thức cố kết cộng đồng của cư dân người Thổ khá bền vững thể hiện cao nhất về chế độ hôn nhân nội tộc của cộng đồng. Tuy các nhóm ở xa nhau nhưng quan hệ hôn nhân rất chặt chẽ. Kết hôn với người khác tộc rất hạn chế. Mối quan hệ giữa các thành viên trong làng bản là mối quan hệ tương thân tương ái, đoàn kết giúp nhau trong những việc như làm nhà mới, ngày gieo hạt,… Người Thổ sống thành làng có trùm làng do dân bầu ra. Tuy vậy, địa vị xã hội và đời sống kinh tế của trùm làng vẫn không biệt lập ra ngoài quan hệ cộng đồng cư trú làng cổ truyền.

Quan niệm của đồng bào Thổ về thế giới cõi âm rất phức tạp. Có nhiều loại thần và ma trong tín ngưỡng bao gồm nhân thần, thiên thần và cả thần những vật vô tri. Những người đầu tiên mở đất lập làng, những người chiến thắng trong các cuộc chinh chiến đều trở thành thần và được nhân dân thờ phụng. Tín ngưỡng vạn vật có linh hồn thể hiện rõ trong quan niệm về các loại ma như ma đồng, ma nhà, ma cây to đầu làng.

Một số hình ảnh dân tộc Thổ ở Nghệ An:

Ban biên tập

Dân tộc Khơ Mú

Tộc người Khơ Mú thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơme. Người Khơ – mú có nhiều tên gọi khác nhau. Ở Lào, người Khơ – mú được gọi chung một cái tên là Lào Thỏng, nghĩa là những người sống ở vùng giữa, lưng chừng sườn núi. Ở Nghệ An, người Khơ – mú tự nhận tên của mình là KhMụ – có nghĩa là Người. Họ còn được các tộc người khác đặt tên: Xá Cẩu, Xá Khao, Phu Thênh, Kha Mu, Căm Mụ, Tày Hạy, Mứn Xen… Năm 1979, sau nhiều cuộc điều tra xác định thành phần các dân tộc, các nhà khoa học đã công bố Danh mục Thành phần các dân tộc ở Việt Nam, tên gọi Khơ – mú là tên gọi thống nhất cho tộc người này trong cả nước.

Người Khơ – mú ở Nghệ An có nguồn gốc từ Lào di cư sang, cư dân Khơ – mú và dân tộc Ơ – đu là chủ nhân của vùng đất Tây Nghệ An – Thanh Hóa – Sơn La từ trước thế kỷ thứ X. Quá trình di cư của người Khơ – mú sang Việt Nam nói chung, miền núi Nghệ An nói riêng gắn với lịch sử của nước Lào. Ở Lào có trên 40 tộc người nhưng trong thực tế phân thành 3 bộ tộc lớn theo đặc điểm của địa hình cư trú:

Khi Lào bị giặc Cờ Vàng từ Vân Nam tràn xuống xâm chiếm, người Khơ – mú theo các tù trưởng đấu tranh chống giặc ngoại xâm đã di chuyển và cư trú đến các tỉnh phía Bắc Lào, Thanh Hoá và Nghệ An cách đây khoảng 200 năm. Miền núi Nghệ An nối liền về mặt địa văn hoá với các tỉnh Xiêng Khoảng, Hủa Phăn của Lào. Khi biên giới quốc gia chưa được vạch định rõ ràng thì việc cư dân hai nước đi lại, cư trú là điều dễ dàng. Vì vậy, vào khoảng năm 1884 – 1887 người Khơ – mú theo tù trưởng Thạo Cốt chống Pháp thất bại, đa số người Khơ – mú đã ở lại sinh sống tại các huyện Kỳ Sơn, Tương Dương, Quế Phong. Tại Kỳ Sơn, họ đến cư trú sớm nhất ở các xã Mường Típ, Keng Đu, Bảo Thắng, Bảo Nam.

Sau đó, người Khơ – mú còn di cư từ Lào sang rải rác thêm mấy đợt. Năm 1915, thực dân Pháp bắt dân Lào làm đường 7A, phu đồn điền, một số cư dân Lào trong đó có người Khơ – mú chạy trốn sang vùng hẻo lánh ở Nghệ An. Năm 1912 – 1917, khi nghĩa quân Pa Chay thất bại, thực dân Pháp truy lùng quá gắt gao nên một số người Khơ – mú đã từng tham gia theo nghĩa quân phải chạy trốn sang Nghệ An. Năm 1945 – 1946 một số người Khơ – mú theo nghĩa quân lên vùng rừng núi Nghệ An lập căn cứ chống Pháp sau đó ở lại với họ hàng.

Đời sống kinh tế chủ yếu dựa vào nương rẫy với công cụ điển hình là cây gậy chọc lỗ có một đầu vót nhọn được hơ qua lửa. Do vậy, đời sống của người Khơ – mú nhiều khó khăn, năm được mùa cũng chỉ đủ lương thực cho 6 – 7 tháng. Sản phẩm chăn nuôi không đáng kể, chỉ đáp ứng nhu cầu các nghi lễ tôn giáo. Săn bắn, hái lượm đóng vai trò quan trọng trong đời sống. Đồng bào chỉ biết dệt vải thô để làm khố cho đàn ông, còn phần lớn quần áo của phụ nữ phải đổi của người Thái. Tuy nhiên, người Khơ – mú lại có trình độ đan lát mây tre khá cao, sản phẩm được các dân tộc khác ưa thích.

Đời sống văn hóa của người Khơ – mú thường gắn với các ngày lễ hội, đặc biệt là tết Grơ theo phong tục riêng của dân tộc mình. Trong thời gian đón tết, họ tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ với nhiều điệu múa, nhạc cụ tự tạo như: Kèn môi, ống gõ, đàn, trống, sáo,… Trong đó, hoạt động đặc sắc mang đặc trưng dân tộc là hát Tơm. Ngoài lễ hội trong những ngày tết Grơ, dân tộc Khơ Mú còn tổ chức các ngày lễ: Lễ tra hạt, lễ cùng hồn lúa, lễ mừng cầu mới,…

Bản làng của người Khơ – mú thường chỉ có từ 10 – 20 nóc nhà và do lối sống du cư nên nhà của họ rất đơn giản, chỉ là cột tre, mây nứa, sàn bương,… Xã hội người Khơ – mú trước đây là một xã hội phụ thuộc vào người Thái, một số bản làng cư trú gần người Mông thì lệ thuộc vào người Mông. Trưởng bản là trưởng tộc của dòng họ có số dân đông nhất trong bản. Tài sản có giá trị của người Khơ – mú là đàn bò và số chiêng có được. Sự phân hóa giàu nghèo không lớn. Tính tương trợ cộng đồng rất cao và hình thức đổi công trong sản xuất rất phổ biến. Trong bản, nếu một nhà còn ăn thì cả bản còn ăn. Gia đình người Khơ – mú phần lớn là gia đình phụ quyền, người cha, người chồng là chủ gia đình. Đồng bào rất coi trọng dư luận xã hội, coi đó là một cơ chế điều chỉnh hành vi để duy trì sự ổn định của xã hội.

Trong mỗi dòng họ, người trên kẻ dưới được phân biệt qua tục lệ cổ truyền như cậu hỏi vợ cho cháu, luật quy định chỗ ngồi thực hiện lễ nghi tôn giáo,… Người trong họ không được lấy nhau, nhưng lại có tục hôn nhân con cô con cậu. Tàn dư mẫu hệ vẫn còn nặng, rõ nét nhất như vai trò của người cậu rất lớn trong gia đình của những cặp vợ chồng mới cưới. Khi ở rễ, chàng trai thuộc họ vợ, con cái thuộc họ mẹ, chỉ khi về nhà chồng mới đổi họ theo chồng. Về tín ngưỡng, người Khơ – mú cho rằng mọi hoạt động của con người đều do các Ma chi phối. Ma to nhất là ma trời sai khiến được mưa gió, lụt lội; dưới đất có Ma đất có quyền điều khiển Ma bản, Ma rẫy, Ma rừng; trong nhà có Ma tổ tiên và Ma nhà. Bàn thờ tổ tiên của người Khơ – mú đặt ở bếp trong nhà. Mỗi dòng họ có một cách giải thích nguồn gốc dòng họ mình bằng một câu chuyện mang tính huyền thoại, dòng họ thường mang tên một loài chim, một loại cây nào đó.

Một số hình ảnh dân tộc Khơ mú :

Ban biên tập

Dân tộc Thái

Tộc người Thái bao gồm các nhóm: Man Thanh, Hàng Tổng, Tày Mười thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái. Đây là bộ phận dân cư lớn nhất, đóng vai trò rất quan trọng trong việc thay đổi bộ mặt miền núi Nghệ An trong lịch sử cũng như hiện nay là gần 30 vạn cư dân Thái. Đây là nhóm Thái có số dân sống tập trung lớn vào loại thứ hai của cả nước (sau Sơn La trên 57 vạn).

Người Thái vào Nghệ An khoảng từ thế kỷ XV – XVII do những nguyên nhân khác nhau: một bộ phận do chuyển cư tự nhiên từ Lào sang, một bộ phận do chủ trương chuyển cư của Lê Thái Tổ (thế kỷ XV) khi chinh phạt Đèo Cát Hãn từ Tây Bắc, một bộ phận khác chuyển cư từ Thanh Hoá vào. Có ý kiến khác lại cho rằng người Thái đến Nghệ An vào khoảng thế kỷ thứ X. Gần đây, theo tài liệu của một học giả Pháp, người Thái đã có mặt ở vùng này trước thế kỷ VI. Hầu hết các huyện miền núi và trung du ở Nghệ An đều có cư dân Thái sinh sống: Anh Sơn, Con Cuông, Tương Dương, Kỳ Sơn, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Thanh Chương và một số xã thuộc huyện đồng bằng Quỳnh Lưu.

Theo tư liệu tiếng Thái ghi chép còn lại và những truyền thuyết dân gian cho thấy nhóm Thái đầu tiên vào Nghệ An là nhóm có số dân đông nhất, cư trú chủ yếu ở dọc Quốc lộ 48A thuộc các huyện Quế Phong, Quỳ Châu, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp hiện nay. Nhóm cư dân này được gọi là Hàng Tổng, có nơi gọi là người Tày Mường hay Tày Chiềng. Do di cư từ Tây Bắc vào có tổ chức theo đơn vị Mường phìa nên vào Nghệ An họ mang theo tên gọi có ý nghĩa tự xưng như là người Tày Chiềng, Tày Mường, (người ở vùng trung tâm của “Mường phìa”). Nhóm Tày Mường và Tày Chiềng cư trú sớm nhất so với các nhóm người khác ở miền núi Nghệ An. Qua các sách vở bằng chữ Thái, nhóm Tày Mường đã lập làng bản ở Con Cuông và Tương Dương vào thế kỷ 13 – 14. Ở vùng Quỳ Châu cũ, nhóm Tày Mường đã lập nghiệp đầu tiên ở Mường Tôn (nay là xã Mường Nọc huyện Quế Phong); Kim Tiến (gồm các xã Châu Bính và Châu Tiến huyện Quỳ Châu ), Khủn Tinh (gồm các xã Châu Quang, Châu Thái, Châu Lý, Châu Đình huyện Quỳ Hợp).

Người Thái là một trong những cư dân biết làm ruộng nước từ rất sớm. Một số khâu trong kỹ thuật canh tác đã đạt đến trình độ cao. Dấu vết của văn hóa “hỏa canh thủy nậu” truyền thống vẫn còn tồn tại ở những vùng thung lũng hẹp. Bổ sung vào nguồn lương thực và canh tác ruộng nước, đồng bào còn canh tác nương rẫy với lúa cạn và các cây lương thực hoặc hoa màu. Chu kỳ canh tác loại nương rẫy này thường từ 3 – 4 năm. Ở một loại nương rẫy khác dùng để trồng bông, dệt vải và đã áp dụng một số biện pháp thâm canh cao. Rau rừng và các sản phẩm tự nhiên khác như tôm, cá, cua,… là nguồn thức ăn bổ sung quan trọng. Người Thái trước đây chỉ trồng lúa nếp, thì nay họ đã trồng lúa tẻ nhiều hơn với các loại giống mới thay thế các giống địa phương… Trong các loài gia súc thì con trâu được người Thái quý trọng vì ngoài việc dùng làm sức kéo còn là vật cúng lễ, họ còn có nhiều kinh nghiệm trong việc nuôi cá ruộng và cá ao. Việc săn bắn chim thú được tiến hành trong lúc nhàn rỗi và bên cạnh việc tăng nguồn thức ăn, săn bắn còn nhằm mục đích bảo vệ mùa màng,… Các gia đình người Thái đều biết làm nghề thủ công. Trong đó có các nghề trồng bông dệt vải, dệt thổ cẩm rất nổi tiếng. Nghề dệt thổ cẩm Thái là nghề cổ truyền, có tính chất gia truyền và thu nhập do nghề dệt đem lại ở một số gia đình đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế. Cư dân Thái ở vùng Cửa Rào (huyện Tương Dương) còn biết làm nghề chạm bạc đồ trang sức; Ở vùng Quế Phong, Kỳ Sơn, Tương Dương nghề đãi vàng khá phát triển. Ngoài ra người Thái còn có các nghề như lấy cánh kiến ở Tương Dương, nghề làm gốm, nghề rèn, đan lát.

Nét văn hóa tiêu biểu nhất ở người Thái là nhà cửa và trang phục. Mỗi bản thường có 30 – 40 nóc nhà, cũng có bản trên 100 nóc nhà. Nhà ở được cấu trúc theo lối mật tập và thường lớn hơn, chắc chắn hơn so với nhà của đồng bào các dân tộc khác. Xu hướng nhà sàn của người Thái chuyển dần sang nhà đất đã xuất hiện nhiều hơn trong những năm gần đây. Một số gia đình làm nhà nửa sàn nửa đất… Quần áo và đồ trang sức của người Thái Nghệ An có một số nét khác biệt với người Thái Tây Bắc. Đáng chú ý là chiếc váy phụ nữ có cạp trắng hay đỏ, chân váy được thêu rực rỡ. Áo phụ nữ Thái điển hình cho lối trang phục của các cư dân ở vùng Đông Nam Á với 3 loại áo: chui đầu, xẻ nách và xẻ ngực. Trong các dịp lễ hội, đồng bào dân tộc Thái tổ chức nhiều hoạt động văn hóa đặc sắc với các trò chơi nhảy sạp, ném còn,… Hoạt động văn nghệ thì đánh trống, cồng chiêng, khắc luống và hát xuối, nhuôn đối đáp. Tổ chức thi văn nghệ, thi người đẹp và các môn thể thao dân tộc như kéo co, bắn nỏ,…

Về quan hệ xã hội, hôn nhân và gia đình, trong lịch sử khi di cư vào Nghệ An, người Thái cũng đã mang theo thiết chế xã hội của họ ở Tây Bắc vào: chúa đất cai quản Mường và cha truyền con nối. Gia đình Thái là gia đình nhỏ phụ quyền, một vợ một chồng. Trong đó, quyền lực tập trung trong tay người cha, người chồng. Hôn nhân truyền thống của người Thái nhiều chỗ còn mang tính chất “mua bán”. Tiền “cá hua” là giá của người con gái mà chàng rể phải trả dưới hình thức lễ vật, bạc nén và ở rể. Luật tục xử phạt rất nặng đối với các trường hợp vi phạm sự ổn định của gia đình như ngoại tình, loạn luân,…

Người Thái cho rằng Pò Then là đứng siêu nhân quyết định cuộc đời và số phận của con người. Then cai quản các thần, các loại ruộng nương, ma nương, ma tổ tiên. Mỗi bản đều có các ông Mo nắm giữ phần hồn của người dân. Trật tự gia đình phụ quyền được khẳng định và củng cố bằng hình thức thờ cúng tổ tiên. Việc thờ cúng Chúa đất, bản mường, tổ tiên,… tổ chức theo hội hè hàng năm, theo mùa vụ sản xuất và thường ghép với nghi lễ nông nghiệp. Tín ngưỡng có liên quan đến nông nghiệp rất được quan tâm như tục đón tiếng sấm đầu tiên, tục cúng hồn lúa và cúng vua ruộng khi gieo mạ, cấy lúa, lễ cơm mới,…

Một số hình ảnh dân tộc Thái ở Nghệ An:

Ban biên tập

16/06/2023 Ban Dân tộc tỉnh tổ chức Hội nghị tuyên truyền, phổ biến pháp luật …

Thực hiện Chương trình công tác năm 2023, Ban Dân tộc tỉnh phối hợp với UBND, Phòng Dân tộc huyện Quỳ Hợp tổ chức Hội nghị tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật năm 2023.

Anh-tin-bai

Toàn cảnh Hội nghị

Dự khai mạc hội nghị có đồng chí Lương Doãn – Trưởng phòng Dân tộc huyện Quỳ Hợp; đồng chí Võ Trọng Niệm, Chuyên viên phòng Chính sách, Ban Dân tộc tỉnh Nghệ An; đồng chí Trương Thị Bích Hiệp, Phó Chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ huyện Quỳ Hợp và 70 đại biểu là cán bộ xã, bí thư chi bộ, trưởng thôn bản, trưởng các đoàn thể ở thôn bản, người có uy tín trong đồng bào vùng dân tộc thiểu số của 03 xã thuộc huyện Quỳ Hợp là Nghĩa Xuân, Châu Thái, Châu Cường.

Anh-tin-bai

Hội nghị thảo luận chuyên đề Luật Bình đằng giới; Luật Phòng, chống bạo lực gia

Hội nghị được tổ chức 01 ngày 15/6/2023, đại biểu được thông tin 02 chuyên đề là Chuyên đề Luật Bình đằng giới; chuyên đề Luật Phòng, chống bạo lực gia. Nhằm nâng cao kiến thức về pháp luật cho người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo Quyết định 1898/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Quyết định số 1898/QĐ-TTg ngày 28/11/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2018 – 2025”  nhằm Tạo sự chuyển biến tích cực trong thực hiện bình đẳng giới và nâng cao vị thế của phụ nữ ở vùng dân tộc thiểu số, góp phần thúc đẩy thực hiện thành công các mục tiêu của Chiến lược quốc gia bình đẳng giới. theo đó, 100% cán bộ làm công tác dân tộc ở địa phương, 50% cán bộ làm công tác liên quan đến bình đẳng giới ở cấp huyện, cấp xã và người có uy tín, già làng, trưởng bản vùng dân tộc thiểu số có đồng bào dân tộc thiểu số rất ít người sinh sống được phổ biến pháp luật về bình đẳng giới và tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, nâng cao năng lực tổ chức triển khai thực hiện chính sách, pháp luật về bình đẳng giới; Phấn đấu 80% số hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số rất ít người được tiếp cận thông tin về giới và pháp luật về bình đẳng giới; 100% các trường, lớp bán trú và dân tộc nội trú được tuyên truyền kỹ năng sống, về giới và bình đẳng giới với nội dung và thời lượng phù hợp với lứa tuổi.

Qua buổi tuyên truyền giúp đại biểu nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật, chuyển đổi hành vi trong đồng bào DTTS về bình đẳng giới, tiến tới dần xóa bỏ bạo lực trên cơ sở giới, định kiến giới và các quan niệm lạc hậu về giới trong cộng đồng các DTTS. Đồng thời, nâng cao vị thế, vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong gia đình, xã hội, giảm khoảng cách về giới, góp phần vào sự phát triển, tiến bộ của nữ giới trong vùng DTTS trên địa bàn.

 

                                                                                   Trần Thị Hường

Khảo sát xây dựng nhà ở cho hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn tại xã …

Ngày 14/4/2023, Đoàn công tác của Ban Dân tộc do đồng chí Vy Mỹ Sơn, Phó Trưởng Ban, Tổ trưởng tổ công tác theo Quyết định số 25/QĐ-BDT ngày 29/3/2023 của Ban Dân tộc, về việc kiện toàn Tổ công tác giúp đỡ xã Quang Phong, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An và các thành viên trong tổ, đã phối hợp với UBND xã Quang Phong, tiến hành khảo sát, kiểm tra hiện trạng nhà ở, đất ở, hoàn cảnh gia đình của các hộ có hoàn cảnh khó khăn được lựa chọn đề nghị xây dựng nhà và sửa chữa nhà ở trên cơ sở đề xuất của UBND xã Quang Phong, huyện Quế Phong.

Anh-tin-bai

Nhà sàn của gia đình ông Lương Văn Quế, xã Quang Phong, huyện Quế Phong

Đoàn đã đến thăm và tìm hiểu hoàn cảnh của hộ gia đình ông Lương Văn Quế trú tại bản Pảo, xã Quang Phong, huyện Quế Phong. Theo thông tin được cung cấp, gia đình là hộ nghèo đặc biệt khó khăn, được kế thừa nhà sàn cũ 3 gian của bố mẹ để lại, hiện tại nhà đã dột nát, khó có thể đảm bảo an toàn cho cả nhà trong mùa mưa bão. Nguyện vọng của gia đình hiện nay muốn dựng lại nhà mới đủ kiên cố tránh bão, để cả nhà không cần phải dắt díu nhau tìm chỗ trú ẩn mỗi khi mùa mưa bão đến.

Đoàn tiếp tục đến khảo sát nhà ở của gia đình ông Sầm Văn Chanh, là hộ nghèo đặc biệt khó khăn cùng trú tại bản Pảo, xã Quang Phong, huyện Quế Phong, bản thân ông bị khuyết tật, còn bố mẹ già yếu hay ốm đau, bệnh tật, hai con còn nhỏ, lao động chính trong gia đình chỉ nhờ vào người vợ. Hiện nay căn nhà sàn của gia đình đã xuống cấp. Do bản thân ông Chanh bị tàn tật, bố mẹ thì đã già yếu, do vậy mong muốn được các đoàn thể giúp đỡ để gia đình ông tháo dỡ nhà sàn, sữa chữa thành nhà đất tiện cho sinh hoạt hàng ngày của gia đình.

Anh-tin-bai

Căn nhà sàn của gia đình ông Sầm Văn Chanh, xã Quang Phong, huyện Quế Phong

Năm 2023, dự kiến hỗ trợ xây dựng, sửa chữa nhà cho 02 hộ nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên địa bàn xã Quang Phong, huyện Quế Phong với tổng kinh phí hỗ trợ là 75 triệu đồng (trong đó: 50 triệu đồng/nhà làm mới và 25 triệu/nhà sửa chữa). Đây là một trong những hoạt động nhân đạo thông qua nguồn vốn kêu gọi ủng hộ giúp đỡ của toàn thể cán bộ, công chức, viên chức Cơ quan Ban Dân tộc nhằm giúp đỡ những gia đình có hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong cuộc sống.

Lang Thị Hiến